Thứ sáu, ngày 22/08/2014
  Liên hệ Sơ đổ Giới thiệu
TRÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
Để rừng ngập mặn phát triển bền vững
Bài 3: Những người biết dựa vào rừng

Cập nhật ngày: 07/12/2012 15:02:21

Nhiều năm qua luôn tồn tại một nghịch lý giữa phát triển kinh tế và bảo vệ rừng. Đây là hai vấn đề gần như không thể cùng chung sống hòa bình với nhau.

Tuy nhiên, thực tế nhiều hộ dân định cư tại các địa phương có rừng ngập mặn đang từng bước vươn lên làm giàu nhờ trồng rừng, bảo vệ rừng. Với họ, rừng chính là cuộc sống.

Chỉ tay ra cánh rừng được 2 năm tuổi sau nhà, anh Lê Minh Thảo, ấp Bông Súng, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, phấn khởi: “Rừng mới trồng lại sau này thôi nhưng phát triển rất nhanh. Thời gian gần đây,  dân mê trồng rừng lắm, bởi mình được quyền khai thác, hưởng tới 95% giá trị chứ không còn thông qua công ty quản lý rừng như trước. Mình tự trồng, được hưởng lợi nên không còn ai phá rừng nữa”.

 
Khai thác rừng đước tại Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Ngọc Hiển.
 Ảnh: Anh Dương

Rừng là vàng

 Những ngôi nhà tường khang trang mọc lên ngày một nhiều dưới những tán rừng đước thuộc địa bàn các huyện Ngọc Hiển, Năm Căn. Cây đước ngày càng được giá, nhưng để “sống được” với cây đước, người dân phải tìm và thực hiện nhiều mô hình nuôi trồng, sản xuất theo phương châm “lấy ngắn nuôi dài”. Những mô hình phụ ở vùng giao khoán đất rừng giờ đây gần như đã trở thành nguồn thu nhập chính của người dân.

Anh Lê Minh Thảo cho biết: “Tôi bắt đầu nuôi tôm sinh thái từ năm 2005 đến nay năm nào cũng hiệu quả, bình quân mỗi tháng thu được 40 triệu đồng/4 ha mặt nước”.

Anh Thảo có tất cả 12 ha đất. Do nuôi tôm sinh thái nên bắt buộc phải có một nửa diện tích dành cho trồng rừng, còn lại là diện tích mặt nước dành cho nuôi tôm. Nếu không đáp ứng yêu cầu này thì không được công nhận nuôi tôm sinh thái, vì vậy diện tích rừng luôn được duy trì.

Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là người dân nơi đây muốn trồng rừng, họ tự nguyện trồng bởi nguồn thu từ rừng mang lại cho họ là không nhỏ.

Ông Nguyễn Văn Lợi, kinh Chủ Điền, ấp Nhà Hội, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, cho biết, ông có 6 ha đất rừng, trồng cây trong vòng 10 năm là có thể khai thác. Vừa rồi ông mới khai thác đợt một được trên 30 triệu đồng. Tính ra với thời giá hiện nay thì đến khi khai thác hết diện tích này sẽ thu được từ 600-700 triệu đồng.

Đây là nguồn thu “bỏ ống” của gia đình ông bởi rừng sau khi trồng thì không tốn chi phí chăm sóc lớn, chỉ đợi thu hoạch. Trong khi đó, diện tích mặt nước dưới tán rừng được ông tận dụng nuôi tôm. Ông Lợi cho biết, năm vừa rồi tổng số tiền thu được từ mô hình nuôi tôm sinh thái của gia đình trên 300 triệu đồng.

Hiện tại có rất nhiều hộ thực hiện mô hình nuôi tôm sinh thái trên địa bàn huyện Năm Căn, Ngọc Hiển. Thực tế cho thấy, đây là mô hình hiệu quả không chỉ mang tới nguồn lợi trước mắt mà còn phát huy việc trồng và bảo vệ rừng.

Ông Lê Trung Nghĩa, điều phối viên của dự án nuôi tôm sinh thái địa bàn Lâm phần 184 thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển, cho biết, hiện Năm Căn và Ngọc hiển có khoảng 1.200 hộ nuôi tôm sinh thái được công nhận. Nuôi tôm sinh thái không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn tăng diện tích rừng lên bởi người dân phải bảo đảm chỉ tiêu 50% diện tích là rừng.

Quà của rừng

Không chỉ nuôi tôm sinh thái, người dân sống dưới tán rừng ngập mặn giờ đây có thể kết hợp nhiều mô hình để phát triển kinh tế hiệu quả cao.

Ông Ba Sang (Nguyễn Văn Sang), ấp Xẻo Lá, xã Viên An Đông, huyện Ngọc Hiển hợp đồng giao khoán đất rừng khoảng 6 ha. Ông trồng đước đạt tỷ lệ theo quy định, diện tích đất còn lại (khoảng trên 2 ha), ông nuôi cá nước ngọt, chăn nuôi heo, trồng trên 100 cây mít, 200 gốc dừa, trên 300 gốc thanh long ruột đỏ và hoa màu…

Đặc biệt, vườn cây thuốc cá của ông trở thành điểm cung ứng cây giống và thành phẩm thuốc cá cho bà con ở địa phương. Dưới tán rừng đước, ông thả nuôi tôm sú và cua. Với mô hình này, mỗi năm gia đình ông Ba Sang thu nhập trên 400 triệu đồng.

Ông Ba Sang chia sẻ: “Giá trị kinh tế của cây đước không còn gì phải bàn cãi nữa, nhưng chu kỳ khai thác cây đước phải mất từ 7 năm trở lên. Vì thế, người dân không thể bó gối ngồi chờ được, mà phải xem đây là “của để dành”, là “tài sản tiết kiệm”.

Để bảo đảm đời sống, người dân phải chịu khó, sáng tạo, siêng năng lao động, tìm tòi những mô hình nuôi trồng, sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, thổ nhưỡng của vùng đất này. Thực tế cho thấy, chỉ cần nông dân kiên trì, sáng tạo thì các mô hình sản xuất ở vùng nước ngọt sẽ được thực hiện thành công, sáng tạo trên vùng đất mặn.

Ông Nguyễn Minh Đức, Trưởng ấp Xẻo Lá, thông tin, 296 hộ dân trong ấp (đa phần thuộc đối tượng giao khoán đất rừng) hầu hết đều có cuộc sống khá ổn định. Tất cả bà con đều bảo đảm việc trồng rừng theo đúng tỷ lệ quy định kết hợp với nuôi tôm quảng canh cải tiến, chăn nuôi, trồng hoa màu, cây ăn trái… cho thu nhập khá ổn định. Đến nay, ấp Xẻo Lá chỉ còn 12 hộ nghèo (chiếm 4,05%). Hiện có thêm 8 hộ đang làm đơn xin thoát nghèo. Dự kiến đến cuối năm toàn ấp chỉ còn 4 hộ nghèo.

Điển hình trong cách làm mới, hiệu quả kinh tế cao còn có hộ ông Năm Tiến (Trần Văn Tiến), ấp Xẻo Mắm, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển. Điều đặc biệt là ở vùng đất mặn này, chỉ duy nhất một mình ông nuôi tôm sú nước lợ và cũng một mình ông là người tạo ấn tượng mạnh với các thương lái khi đều đặn từng con nước bán tôm sú thương phẩm loại 20 con/kg.

Ông Năm Tiến cho rằng, nguồn nước nuôi trồng thủy sản hiện tại đã và đang bị ô nhiễm, vì thế phải mạnh dạn đóng cống giữ nước ngọt vào mùa mưa để thuần thành nguồn nước lợ. Không ngờ, tôm sú giống sau khi thả nuôi ở môi trường nước này đạt tỷ lệ đầu con rất cao, mau lớn, ít dịch bệnh do không bị tác động từ môi trường nước bên ngoài.

Trên bờ bao đất rừng và vuông tôm (trên 4 ha), ông Năm Tiến trồng một số loại cây ăn trái như: chuối, xoài, mận, táo, sơ ri… cho thu nhập trên 80 triệu đồng/năm. Cùng với tôm sú nước lợ, nuôi cua, sò huyết… gia đình ông thu nhập trên 450 triệu đồng/năm.

Ông Bùi Minh Hòa, Chủ tịch UBND xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển cho biết, sắp tới sẽ tăng cường công tác tuyên truyền, vận động bà con tăng gia sản xuất gắn với tổ chức tham quan, học tập kinh nghiệm nhiều mô hình sản xuất đa cây, đa con và ứng dụng hiệu quả ngay trên lâm phần của mình.

Rõ ràng, nhờ có những chính sách, chủ trương hợp lý mà người dân một số nơi biết dung hòa bài toán kinh tế và bảo vệ rừng. Cách bảo vệ rừng tốt nhất chính là để cho người dân tự nguyện bảo vệ./.

Bài 4: Khai thông điểm nghẽn cơ chế

Đặng Duẩn


CÁC TIN ĐÃ ĐƯA
• Để rừng ngập mặn phát triển bền vững
Bài 2: Suy kiệt từ áp lực di dân
 - (06/12/2012)
• Bảo vệ an toàn “lá chắn”  - (04/12/2012)
• Ứng dụng công nghệ nano trong nuôi tôm công nghiệp - (03/12/2012)
• Thí điểm liên kết trong nuôi tôm công nghiệp - (28/11/2012)
• Ông Trần Văn Bộ, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại - Du lịch và Đầu tư (CTIP), Phó ban Tổ chức Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế ĐBSCL:
Hội chợ là cơ hội quảng bá sự phát triển nông nghiệp trong khu vực
 - (15/11/2012)
• Vinh danh doanh nghiệp, doanh nhân - (15/11/2012)
• Ứng dụng đề tài, dự án khoa học vào sản xuất: Cần có quy trình cụ thể - (14/11/2012)
• Các nhà máy chế biến thuỷ sản xuất khẩu “đói” nguyên liệu - (11/11/2012)
• Để hạ tầng các đô thị mới phát triển đồng bộ - (08/11/2012)
• Quyết tâm hoàn thành công tác thu ngân sách Nhà nước năm 2012 - (06/11/2012)


PHÓNG SỰ ẢNH
Bạn bị ảnh hưởng gì khi giá tiêu dùng tăng cao?

  Xem kết quả...