Thứ năm, 5-2-26 10:42:57
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Cần quản lý và khai thác tốt tài nguyên nước

Báo Cà Mau

Đối với một tỉnh có thế mạnh sản xuất nông nghiệp như Bạc Liêu, nước không chỉ là nhu cầu, mà còn là điều kiện tất yếu cho phát triển bền vững. Thế nhưng, việc quản lý tài nguyên nước hiện nay cũng đặt ra nhiều thách thức, nhất là tình trạng sử dụng lãng phí và cạn kiệt nguồn nước ngầm.

 Nông dân huyện Đông Hải sử dụng bơm chìm khai thác nước ngầm để nuôi tôm.

 Người dân huyện Hòa Bình sử dụng giếng khoan phục vụ sinh hoạt. Ảnh: L.D

LẠM DỤNG NGUỒN NƯỚC NGẦM

Bạc Liêu được xem là tỉnh giàu và đa dạng về tài nguyên nước. Nguồn nước mặt gồm nước biển và nước ngọt từ sông Hậu dẫn về qua kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp và nguồn nước mưa tại chỗ, đảm bảo phục vụ toàn bộ diện tích canh tác của tỉnh. Khu vực phía Bắc Quốc lộ (QL) 1A (vùng ngọt hóa) chủ yếu sản xuất nông nghiệp (trồng lúa kết hợp với nuôi trồng thủy sản) sử dụng nguồn nước ngọt từ kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp và nguồn nước mưa trong 6 tháng mùa mưa. Vùng phía Nam QL1A (vùng thích nghi) chủ yếu nuôi trồng thủy sản, làm muối kết hợp trồng lúa sử dụng từ nguồn nước biển và nguồn nước mưa tại chỗ.

Tuy nhiên, một trong những vấn đề đáng quan tâm là nhiều nơi người dân lạm dụng nguồn nước ngầm phục vụ sản xuất và sinh hoạt, gây lãng phí nguồn tài nguyên này, nhất là việc khoan giếng nước ngầm phục vụ nuôi trồng thủy sản. Bởi, với tổng diện tích nuôi trồng thủy sản hơn 139.580ha và việc khuyến khích mở rộng diện tích nuôi tôm cho cả hai vùng sản xuất (Bắc và phía Nam QL1A) sẽ kéo theo nhu cầu sử dụng nước ngọt tăng cao. Việc doanh nghiệp, nông dân khai thác triệt để nguồn nước ngầm phục vụ nuôi tôm là chuyện không thể tránh khỏi. Đây sẽ là thách thức và tạo ra nguy cơ lớn nếu như không có những giải pháp mang tính căn cơ.

Theo số liệu điều tra sơ bộ của Phòng Tài nguyên nước (thuộc Sở TN-MT), Bạc Liêu có gần 100 giàn khoan giếng nước ngầm quy mô nhỏ, khoan phổ biến ở độ sâu từ 90 - 150m, đường kính 49 - 90mm. Việc khoan giếng và khai thác, sử dụng nguồn nước ngầm lâu nay mang tính tự phát, khó kiểm soát. Thêm vào đó, tình trạng khai thác gần như quá mức nguồn nước ngầm thông qua sử dụng thiết bị bơm chìm, bơm hỏa tiễn đã gây cạn kiệt, làm ô nhiễm nguồn nước. Hiện tầng chứa nước Pleistocen giữa - trên (qp2-3) - vốn là tầng nước mà người dân Bạc Liêu khai thác phổ biến, bình quân mỗi năm tụt giảm 0,5m.

HẬU QUẢ NẶNG NỀ

Theo các nhà khoa học, việc khai thác và lạm dụng nguồn nước ngầm sẽ để lại nhiều hậu quả, hệ lụy nặng nề tác động tiêu cực đến phát triển bền vững. Đơn cử như việc hạ thấp mực nước ngầm sẽ dẫn tới hiện tượng sụt lún các lớp đất đá trong tầng chứa nước. Khi khai thác nước ngầm quá mức sẽ làm mực nước hạ thấp và tầng đất này không còn lực đẩy Archimedes nữa. Từ đó hình thành các lỗ hổng lớn, dẫn tới sụt lún các công trình, gây thiệt hại về kinh tế và tính mạng con người.

Việc khai thác quá mức nguồn nước ngầm còn gây ra một số tác động như: Làm thấp mực nước dưới đất và gây cạn kiệt nguồn nước ngầm, ảnh hưởng đến các công trình khai thác nước ngầm khác. Cụ thể, khi một công trình khai thác nước ngầm đi vào hoạt động thì ảnh hưởng của nó sẽ lan rộng khá nhanh tới khu vực xung quanh, tác động tới các công trình khai thác lân cận làm cho mực nước trong các công trình này bị hạ thấp, do vậy sẽ làm tăng chi phí và giảm hiệu suất khai thác của công trình.

Ngoài ra, các nhà khoa học cũng cảnh báo, việc khai thác nước ngầm thiếu kiểm soát, không đúng kỹ thuật sẽ tạo cơ hội cho nước bẩn thâm nhập, làm biến đổi chất lượng nguồn nước. So với nước mặt, nước ngầm ít ô nhiễm hơn, nhưng đối với các vùng mà lớp phủ trên tầng chứa nước mỏng hoặc có tính thẩm thấu lớn sẽ làm cho nước mặt thấm xuống nhiều rất dễ gây nhiễm bẩn tầng chứa nước. Việc sử dụng các loại hóa chất, kháng sinh phục vụ sản xuất, nhất là tình trạng xả thải bừa bãi ngay khu vực gần nơi giếng khoan cũng gây nhiễm bẩn nguồn nước ngầm.

Thực tiễn chứng minh, việc đầu tư khoan mới một cây nước ngầm rất dễ dàng, nhưng khi nguồn nước đã ô nhiễm muốn xử lý, khắc phục thì sẽ rất khó khăn, vì ngoài tốn kém kinh phí, còn đòi hỏi thời gian khắc phục lâu dài…

Để phục vụ tốt nhu cầu phát triển bền vững trong tương lai, việc nâng cao nhận thức và cả hành động cho cộng đồng là giải pháp mang tính quyết định. Trong đó, ngành quản lý và các địa phương cần đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, mở nhiều lớp tập huấn trang bị kiến thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc bảo vệ tài nguyên nước, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này; không xem tài nguyên nước là vô tận dẫn đến lạm dụng quá mức gây lãng phí. Đồng thời làm tốt công tác quản lý các doanh nghiệp, cá nhân hành nghề khai thác giếng khoan; phát huy vai trò, trách nhiệm quản lý của chính quyền địa phương và giám sát của cộng đồng trong việc sử dụng, quản lý nguồn nước.

THANH THẢO

(Bài viết có sử dụng tài liệu của ngành TN-MT)

Phủ xanh bờ bao vuông tôm, thu quả ngọt

Giữa vùng đất mặn quanh năm gắn với sự sinh trưởng của con tôm, con cua, người dân xã Tam Giang tận dụng những khoảng đất trống quanh nhà để trồng dưa hấu, không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn mở ra hướng sản xuất linh hoạt, hiệu quả. Những ruộng dưa xanh mướt đang hứa hẹn một vụ mùa bội thu khi Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề.

“Vị ngọt” tôm - lúa hữu cơ

Khi tiết trời se lạnh, những cánh đồng lúa vừa gặt xong nhường chỗ cho con nước mặn tràn về, cũng là lúc tôm bắt đầu lớn lên trong lớp phù sa mặn - ngọt giao hoà. Ở Cà Mau, vòng quay mùa vụ không chỉ tạo nên nhịp sống đặc trưng mà còn hình thành mô hình sản xuất bền vững đang hoà nhịp cùng xu thế phát triển xanh của cả nước: tôm - lúa hữu cơ.

Vĩnh Lộc: Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại

Đó là chỉ đạo của đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, đối với định hướng phát triển nông nghiệp của xã Vĩnh Lộc. Là xã thuần nông, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến thất thường, một bộ phận nông dân còn giữ tư duy sản xuất cũ và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Xuân về trên những cánh đồng

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón Tết ở Xã Nguyễn Phích rộn ràng, phấn khởi hơn mọi năm. Trên những cánh đồng lúa - tôm trải dài, niềm vui hiện rõ trên gương mặt người dân khi năm nay vừa trúng tôm càng xanh, vừa trúng lúa. Sau một năm cần mẫn bám đất, bám rừng, bà con có thêm điều kiện đón một cái Tết đủ đầy, ấm áp.

Ðặc sản OCOP vào vụ Tết

Những ngày giáp tết Nguyên đán, tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP bước vào cao điểm nhằm kịp cung ứng hàng hoá cho thị trường Tết. Bên cạnh tăng sản lượng, các cơ sở OCOP còn chú trọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu, từng bước đưa nông sản địa phương khẳng định vị thế trên thị trường.

Làng nghề ép chuối khô vào mùa Tết

Những ngày cận Tết tại xã Khánh Hưng, không khí lao động tại các hộ làm nghề ép chuối khô tất bật hơn thường ngày để kịp cung ứng cho thị trường Tết Bính Ngọ 2026. Thương lái bắt đầu về tận nơi thu mua, vận chuyển chuối ép khô lên các tỉnh vùng trên tiêu thụ.

Ðặc sản khô Tết lên sàn

Những ngày này, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh trong tỉnh tất bật vào vụ sản xuất các mặt hàng khô. Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, người dân mạnh dạn tận dụng công nghệ, đưa đặc sản lên sàn thương mại điện tử, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ra mắt phần mềm Nông nghiệp

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị công bố chính thức Phần mềm Nông nghiệp Cà Mau và Cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh. Dự hội nghị có lãnh đạo sở, các đơn vị trực thuộc và đại diện lãnh đạo các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Ðòn bẩy nâng tầm đặc sản Cà Mau

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản địa phương, bảo hộ sở hữu trí tuệ đang trở thành “chìa khoá” quan trọng, giúp các đặc sản Cà Mau khẳng định uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng, gìn giữ và phát huy tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc trưng không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.

Thay đổi nhỏ, giá trị lớn

Những thay đổi nhỏ trong canh tác, từ việc điều chỉnh quy trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến cách thức tổ chức sản xuất... đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân, với thu nhập tăng thêm từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi năm.