Thứ tư, 6-5-26 03:29:37
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Cần tăng cường đầu tư thủy lợi phục vụ nuôi tôm

Báo Cà Mau

So với các địa phương khác, Bạc Liêu giàu tiềm năng, thế mạnh về nuôi trồng thủy sản (NTTS). Với 3 tiểu vùng sinh thái đặc thù, đã mở ra nhiều cơ hội cho Bạc Liêu phát triển mạnh mô hình nuôi tôm công nghiệp, tôm - rừng và tôm trên đất lúa.

CON TÔM LÀ “TRỤ ĐỠ”

Thực hiện chuyển đổi sản xuất từ năm 2001 đến nay, con tôm đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và Bạc Liêu đã hình thành 2 vùng sản xuất trọng điểm.

Đối với vùng sản xuất phía Bắc Quốc lộ (QL) 1A, có 2 tiểu vùng sinh thái lợ và ngọt. Trong đó, tiểu vùng chuyển đổi sản xuất (sinh thái lợ) có diện tích tự nhiên 75.600ha, với mô hình tôm - lúa là chủ lực. Riêng vùng sản xuất phía Nam QL 1A (sinh thái mặn) có diện tích tự nhiên hơn 102.000ha và được xem là “vương quốc” của con tôm công nghiệp và tôm - rừng.

Để phục vụ cho NTTS thuộc tiểu vùng sinh thái mặn và lợ, nguồn nước chủ yếu được lấy là triều biển Đông và triều biển Tây. Đối với tiểu vùng sinh thái mặn, việc cấp thoát nước thông qua lợi dụng thủy triều bằng hệ thống kênh mương hở, lấy nước vào ao đầm bằng tự chảy và bơm tát. Tuy nhiên ở vùng này, ngoài công trình đê biển Đông, kênh và cống qua đê thì chưa có công trình điều tiết hoặc kiểm soát nguồn nước mặn.

Ở vùng sinh thái lợ, hướng lấy nguồn nước mặn từ 3 phía: phía triều biển Đông qua các cống ngăn mặn Bắc QL 1A; phía từ Cà Mau qua các cống Tắc Vân, cống Cà Mau trên kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp và kênh Chắc Băng; phía triều biển Tây theo sông Cái Lớn từ hướng Kiên Giang chảy về.

Từ năm 2001, khi thực hiện chuyển đổi sản xuất, quy hoạch thủy lợi phục vụ NTTS đã được đặt ra. Thực tế đến nay đã đạt được một số kết quả quan trọng. Đó là công trình phân ranh mặn - ngọt ở vùng Bắc QL 1A đã hình thành và thay thế cho hệ thống đập thời vụ để phân 2 vùng sinh thái riêng biệt: vùng sinh thái ngọt ổn định 80.600ha và vùng chuyển đối (sinh thái lợ) 75.600ha. Hay công trình phòng chống thiên tai bảo vệ vùng NTTS, đã xây dựng tuyến đê biển với đa nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ bảo vệ cho vùng NTTS phía Nam QL 1A.

Trước đây, tuyến đê biển được quy hoạch với 11 cống ngăn mặn. Sau đó, để phục vụ cho NTTS, quy hoạch 11 cống này đã được thay thế bằng xây dựng 24 cống kết hợp cầu qua đê. Nhờ sự điều chỉnh này, việc cấp thoát nước cho NTTS được bảo đảm và tuyến đê đã không bị chia cắt phân vùng. Đặc biệt là phù hợp với phát triển các đối tượng chủ lực (tôm sú, tôm thẻ chân trắng), góp phần xây dựng Bạc Liêu sớm trở thành trung tâm ngành công nghiệp tôm của cả nước và đưa ngành Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò là “trụ đỡ” quan trọng trong phát triển kinh tế chung của tỉnh. Đến nay, toàn tỉnh có 25 tổ chức, doanh nghiệp và hơn 830 hộ nông dân áp dụng mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao.

Mô hình nuôi tôm siêu thâm canh ứng dụng công nghệ cao của Công ty TNHH Công nghệ sinh học Trúc Anh (TP. Bạc Liêu) xếp vào tốp đầu về mô hình nuôi tôm bền vững. Ảnh: Hoàng Huynh

CẢNH BÁO Ô NHIỄM VÀ SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG

Cùng với những tiềm năng, lợi thế vốn có, hệ thống công trình thủy lợi phục vụ NTTS hiện cũng đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức.

Đối với vùng phía Nam QL 1A, do giáp biển Đông nên độ mặn của nguồn nước vào mùa khô hàng năm thường tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất của bà con nuôi tôm. Cụ thể, độ mặn cao dẫn đến tôm nuôi chậm lớn, thời gian nuôi kéo dài làm tốn chi phí, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn Parahemolycus phát triển và lây lan dịch bệnh. Cũng như, thiếu nước ngọt nuôi tôm trong mùa khô dẫn đến tình trạng người dân tự khoan giếng ngầm để pha loãng nước mặn phục vụ nuôi tôm và làm cho tình trạng mực nước ngầm xuống thấp dẫn đến sụt lún đất nền tự nhiên bình quân 1 - 2cm/năm. Từ đó, mỗi khi triều cường lên cao, diện tích ngập úng ngày một lớn hơn và lâu ngày sẽ dẫn đến sa mạc hóa cho toàn bộ khu vực nuôi tôm phía Nam QL 1A của tỉnh.

Ngoài các khó khăn về nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất, vùng này còn thường xuyên chịu tác động bất lợi từ biển như: ngập do triều cường dâng cao, xói lở bờ biển… đã gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất, đời sống và sinh kế của người dân trong vùng.

Bên cạnh đó, trừ hệ thống các kênh cấp cuối cùng (kênh nội đồng) có cống điều tiết nước của từng hộ dân thì toàn bộ hệ thống còn lại kênh mương đều thông với nhau và thông với nguồn cấp là biển Đông. Từ đặc điểm của hệ thống này là “vừa cấp vừa thoát” kết hợp, không hoàn chỉnh và không đồng bộ nên việc kiểm soát nguồn nước luôn gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó, do gần biển nên tốc độ bồi lắng nhanh và hầu hết các kênh cấp 2, cấp 3 và cấp 3 vượt cấp sau 2 - 3 năm đều bị bồi lắng dẫn đến phải phân bổ nhiều nguồn kinh phí, mất nhiều thời gian để đầu tư nạo vét. Đáng quan tâm nhất là tình trạng môi trường nước không đảm bảo do các chất thải rắn, lỏng, các hóa chất dùng trong sản xuất và sinh hoạt đều thải trực tiếp vào môi trường nước làm nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm nặng nề…

Tất cả những khó khăn trên rất cần một giải pháp về hạ tầng và tăng cường đầu tư nhiều hơn nữa cho thủy lợi phục vụ NTTS ở Bạc Liêu.

TÚ ANH

---------------------------

Một số giải pháp để Bạc Liêu bảo vệ môi trường sản xuất và hướng đến phát triển bền vững

* Đối với vùng phía Nam QL 1A

- Quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng thủy lợi để nuôi tôm siêu thâm canh mật độ cao, phạm vi từ kênh Trường Sơn hướng ra đê biển Đông. Đồng thời, đầu tư hạ tầng thủy lợi nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, phạm vi từ kênh Trường Sơn trở vào kênh Cà Mau - Bạc Liêu.

- Phân vùng các hệ thống công trình thủy lợi (kênh cấp 1, kênh cấp 2, kênh cấp 3, cấp 3 vượt cấp và nội đồng) để xây dựng hạ tầng (thủy lợi, giao thông, hệ thống lưới điện) các khu vực nuôi tôm công nghệ cao. Từ đó, xây dựng mô hình kinh tế tổ hợp tác nuôi tôm, nhằm đem lại hiệu quả trong quá trình nuôi tôm và tăng năng suất về số lượng và chất cho con tôm.

- Đầu tư cải tạo hệ thống kênh các cấp: Hệ thống kênh trục, cấp 1 và cấp 2, bố trí cấp thoát kết hợp, chỉ bố trí cấp thoát riêng biệt từ cấp 3 trở xuống. Từ cấp 2 trở lên, không bố trí cống đầu kênh để giải quyết vấn đề giao thông thủy, tạo môi trường thông thoáng, tăng nhanh khả năng cấp nước, hạn chế bồi lắng. Từ kênh cấp 3 trở xuống có thể bố trí cống để cấp thoát riêng biệt và quản lý môi trường.

- Đẩy nhanh tiến độ thi công các cống dưới đê biển Đông (còn 20 cống) để thông dòng lấy nước mặn từ biển Đông chảy vào, nhằm phục vụ cho NTTS. Đồng thời, ngăn triều cường chống ngập để bảo vệ sản xuất, nhất là sản xuất NTTS vùng Nam QL 1A.

- Triển khai nhanh Dự án “Hệ thống công trình điều tiết, bổ sung nước phục vụ NTTS vùng phía Nam QL 1A, tỉnh Bạc Liêu” để cải thiện tình hình sản xuất ở vùng Nam QL 1A.

* Đối với vùng phía Bắc QL 1A

- Triển khai Dự án Cái Lớn - Cái Bé giai đoạn 2: Trong giai đoạn II, đề nghị Bộ NN&PTNT hỗ trợ tỉnh Bạc Liêu đầu tư 16 cống đầu các kênh trục nằm dọc theo phía Bắc trục kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp của tỉnh Bạc Liêu để tạo điều kiện phân vùng sản xuất và chủ động trong công tác điều tiết nước của tỉnh (kinh phí 350 tỷ đồng); hỗ trợ đầu tư nạo vét 8 trục kênh cấp 1 thuộc vùng dự án của tỉnh Bạc Liêu, tổng chiều dài 120,5km và kinh phí 475 tỷ đồng.

Phê duyệt quy hoạch Khu du lịch sinh thái Vườn Quốc gia U Minh Hạ

Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau vừa phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí Vườn Quốc gia U Minh Hạ với quy mô hơn 1.300 ha. Đây là bước đi chiến lược nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, đồng thời đảm bảo hài hoà giữa khai thác du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học.

Gạo Ông Điền - Lối đi mới từ mô hình lúa hữu cơ vi sinh

Trong xu hướng phát triển nông nghiệp sạch, nhiều nông dân trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã mạnh dạn chuyển đổi sang sản xuất lúa hữu cơ vi sinh. Nổi bật trong đó là mô hình sản xuất gắn với thương hiệu Gạo Ông Điền tại Láng Tròn. Mô hình không chỉ giúp giảm chi phí, bảo vệ môi trường mà còn tạo đầu ra ổn định, nâng cao thu nhập, đồng thời cải thiện chất lượng hạt gạo trong bữa ăn của người dân.

Tuân thủ lịch thời vụ, "né mặn" hiệu quả

Hiện nay đang trong cao điểm mùa khô, xâm nhập mặn gia tăng. Ngành Nông nghiệp tỉnh Cà Mau khuyến cáo bà con nông dân cần tuân thủ nghiêm ngặt lịch thời vụ, để đảm bảo cho vụ sản xuất hiệu quả.

Liên kết sản xuất, nâng tầm lúa gạo Cà Mau

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét, ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau đang chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt thông qua việc đẩy mạnh liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ theo chuỗi giá trị. Đây được xem là hướng đi tất yếu nhằm nâng cao giá trị hạt gạo, cải thiện thu nhập cho người nông dân và hướng đến phát triển bền vững.

Giải ngân 900 triệu đồng nguồn vốn vay Quỹ Hỗ trợ nông dân

32 hộ hội viên nông dân xã Năm Căn được giải ngân số tiền vay 900 triệu đồng từ Quỹ Hỗ trợ nông dân để đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Khai thác phế phẩm, nâng giá trị sản xuất nông nghiệp

Tự học hỏi, mày mò nghiên cứu và chế tạo một số máy móc phục vụ xay, gia công chả cá phi, anh Trần Văn Hội, ấp Sơn Trắng, xã Vĩnh Lộc đã thành công với mô hình tận dụng phế phẩm cá Phi làm thức ăn nuôi cá lóc mùng. Những phần tưởng chừng bỏ đi nay trở thành nguồn thức ăn chính cho cá nuôi. Mô hình khép kín, vừa tiết kiệm chi phí, vừa thân thiện với môi trường đang dần khẳng định hiệu quả theo hướng nông nghiệp tuần hoàn.

Cà Mau nỗ lực ứng phó hạn mặn, khan hiếm nước sạch

Mùa khô năm 2026 tại Cà Mau đang diễn ra trong thời tiết cực đoan, nắng nóng kéo dài và xâm nhập mặn gia tăng, khiến nguồn nước ngọt ngày càng khan hiếm. Tình trạng thiếu nước sinh hoạt đã xuất hiện cục bộ tại nhiều khu vực nông thôn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân.

Hỗ trợ nông dân tìm đầu ra cho lúa đông xuân

Thời điểm này, nông dân trên địa bàn tỉnh Cà Mau đang tập trung thu hoạch dứt điểm vụ lúa đông xuân 2025-2026. Dù năng suất đạt khá cao nhưng giá lúa giảm, trong khi chi phí sản xuất như phân bón, xăng dầu, thuê máy gặt đập… lại tăng cao, khiến lợi nhuận của bà con giảm. Trước tình hình này, chính quyền các địa phương đang tích cực tìm giải pháp hỗ trợ nông dân.

"Cây thoát nghèo" trên đất giồng ven biển

Tại khóm Biển Tây A (phường Hiệp Thành), trên diện tích đất canh tác kém hiệu quả trước đây, mô hình trồng măng tây xanh đang mở ra hướng đi mới khi giúp nhiều hộ dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn thu nhập ổn định.

Hợp tác xã - Trụ cột quan trọng tái cấu trúc nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp ngày càng đối mặt với nhiều thách thức từ biến động thị trường, chi phí đầu vào tăng cao, đến yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng nông sản, vì vậy, việc tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết đang trở thành xu thế tất yếu. Trong tiến trình đó, các hợp tác xã (HTX) trên địa bàn tỉnh Cà Mau đã và đang phát huy vai trò “cầu nối” giữa nông dân và doanh nghiệp, góp phần nâng cao giá trị nông sản, ổn định đầu ra và cải thiện thu nhập cho người dân.