Thứ bảy, 7-2-26 10:05:12
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản vùng Nam Quốc lộ 1A: Những bất cập cần được tháo gỡ

Báo Cà Mau

Bài 2: Khó khăn, bất cập do đâu?

Bài 1: Tình hình mới, quy hoạch cũ

Kênh mương bồi lắng quá nhanh, thiếu kinh phí nạo vét, bế tắc bài toán xử lý phù sa, chưa tạo ra được nguồn nước ngọt bổ sung để pha loãng nước mặn nuôi tôm khiến người dân khai thác nước ngầm quá mức cho phép… là những gì khó khăn, bất cập mà vùng Nam Quốc lộ (QL) 1A đang phải đối mặt. Có những bất cập được ngành Nông nghiệp đưa ra giải pháp tháo gỡ, nhưng cũng có những bất cập tỉnh phải chọn giải pháp “sống chung”, bởi nó là một quy luật tự nhiên không thể làm thay đổi được.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Đào Xuân Ngọc (bìa trái) khảo sát quy hoạch một số công trình thủy lợi lớn tại Bạc Liêu.

Bất cập bắt nguồn từ thiên nhiên

Khi nói đến chuyện khó khăn, bất cập về hệ thống thủy lợi trong nuôi trồng thủy sản (NTTS) vùng Nam QL1A của tỉnh, các chuyên gia trong ngành Nông nghiệp đều khẳng định rằng: cơ bản là thiếu kinh phí đầu tư, nhưng không phải cái gì có tiền cũng đều làm được. Ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở NN&PTNT cho rằng: “Một số khó khăn về thủy lợi cho NTTS là do kinh phí đầu tư hạn hẹp. Song, có những bất cập không phải do chúng ta thiếu cái nhìn, mà do vùng Nam QL1A nằm ở vị trí địa lý đặc thù và dòng hải lưu kiến tạo”. Đó là do gần biển, hàm lượng phù sa cao, phần lớn kênh cấp II lại nằm song song với bờ biển nên tốc độ bồi lắng nhanh, cứ sau 2 - 3 năm nạo vét đã bị bồi lắng trở lại. Điều này tỉnh đã nhận thấy từ lâu nhưng chúng ta không thể ngăn cản được quy luật tự nhiên này. Và vấn đề phù sa được tỉnh xác định là bất cập lớn nhất, gây nên khó khăn rất nhiều về nguồn nước phục vụ NTTS (chủ yếu là tôm sú).

Các tỉnh ven biển có diện tích nuôi tôm và kể cả các nhà khoa học đều đang bế tắc với bài toán ngăn cản phù sa. Bởi lẽ, việc cấp thoát nước cho NTTS vùng Nam của tỉnh hiện nay đều qua hệ thống kênh hở, tiếp cận trực tiếp với ảnh hưởng của thủy triều biển Đông. Và nhiều tỉnh (trong đó có Bạc Liêu) đã chọn phương án “sống chung” với nó mà không bao giờ nghĩ tới chuyện phải lọc hay lắng phù sa này. Người ta xác định, chi phí cho việc nạo vét kênh thủy lợi giống như chi phí phân bón, thuốc trừ sâu mà người trồng lúa phải sử dụng. Việc nạo vét kênh thủy lợi là phải đưa vào hệ thống chi tiêu sản xuất.

Tuy nhiên, ngành NN&PTNT tỉnh cũng khẳng định, việc đưa phù sa vào một khu vực nào đó theo ý muốn của mình để hạn chế xâm nhập vào khu vực NTTS là giải pháp tối ưu mà tỉnh đang tính đến. Định hướng của tỉnh về lâu dài là 24 cửa sông, kênh, rạch thông ra biển nằm dọc đê biển hiện nay đều được đóng lại thông qua hệ thống cống. Việc lấy nước NTTS chỉ cho vào từ một cửa Gành Hào, từ đó phù sa sẽ lắng tụ ở một dòng kênh nào đó để việc nạo vét được dễ dàng hơn.

Một bất cập khác cho NTTS ở vùng Nam QL1A mà Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam xác định là do chưa tạo được nguồn nước ngọt bổ sung để pha loãng nước mặn nuôi tôm nên người dân đã khai thác nước ngầm quá mức cho phép. Tại khu vực này, tầng nước ngầm đã bị cạn kiệt và đang có nguy cơ bị ô nhiễm nặng. Vì vậy, phương án mà Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam đưa ra là Bạc Liêu cần xây dựng hai âu thuyền nằm trên kênh xáng Cà Mau - Bạc Liêu để chuyển nước ngọt từ vùng Bắc QL1A vào vùng Nam, giải quyết bài toán khủng hoảng nước ngọt.

Kênh xáng Bạc Liêu - Cà Mau dẫn nước phục vụ NTTS đã 15 năm chưa được nạo vét. Ảnh: T.Đ

Khó khăn do thiếu kinh phí

Bất cập và cốt lõi nhất về hệ thống thủy lợi vùng Nam QL1A hiện nay là xử lý phù sa. Nhưng quan trọng hơn vẫn là kinh phí đầu tư cho việc thực hiện giải pháp xây dựng công trình thủy lợi (cống, âu thuyền…). Ông Lai Thanh Ẩn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh, đánh giá: “Việc xã hội hóa công tác nạo vét và xây dựng công trình thủy lợi hiện nay là vô cùng khó khăn. Người dân không muốn đóng góp kinh phí cho thủy lợi, thủy nông nội đồng. Dù biết rằng không phải quá khó và cũng không lớn, nhưng hầu hết họ đều dựa dẫm, ỷ lại vào sự đầu tư của Nhà nước”. Theo ông Ẩn, ngoại trừ những trục kênh chính, các kênh rạch còn lại nếu Nhà nước và nhân dân cùng nhau thực hiện nạo vét định kỳ thì hệ thống thủy lợi của Bạc Liêu sẽ tốt hơn hiện nay rất nhiều.

Còn ông Lương Ngọc Lân, Giám đốc Sở NN&PTNT cho biết, trong điều kiện ngân sách của tỉnh hạn hẹp như hiện nay, trung bình một năm, kinh phí tỉnh dành cho nạo vét kênh mương chỉ khoảng 50 tỷ đồng. Từ thực tế này, công tác thủy lợi của tỉnh chỉ thực hiện theo phương châm “có tiền đến đâu, thực hiện đến đó”. Riêng các công trình thủy lợi chống biến đổi khí hậu và việc nạo vét các tuyến kênh từ cấp II trở lên là hoàn toàn dựa vào ngân sách Nhà nước xin từ Trung ương.

Tuy nhiên, mỗi năm tỉnh cũng được Trung ương rót thêm khoảng 200 tỷ đồng để đầu tư cho công tác thủy lợi, nhưng không phải chỉ dành cho kênh mương mà bao gồm tất cả các công trình như: cống, kênh, mương, đê, kè, cầu thủy lợi… Chính sự dàn trải kinh phí này dẫn đến tiến độ thực hiện các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh diễn ra rất chậm và không biết bao giờ mới đáp ứng kịp nhu cầu của thực tiễn NTTS. Riêng năm 2012, do thực hiện chủ trương thắt chặt chi tiêu công nên tỉnh chưa được ghi vốn đồng nào đối với những công trình sử dụng vốn Trung ương.

Ông Lương Ngọc Lân cũng khẳng định, với hệ thống công trình từ thời Pháp để lại, kể cả kênh Cà Mau - Bạc Liêu (tuyến kênh huyết mạch quan trọng cho cả lưu thông đường thủy và cung cấp nước cho NTTS) từ khi tách tỉnh đến nay vẫn chưa một lần nạo vét. Trong khi đó, nếu đáp ứng được nhu cầu về thủy lợi phục vụ NTTS, mỗi năm, Bạc Liêu phải cần đến vài ngàn tỷ đồng…

Tấn Đạt

Kỳ tới: Giải pháp cho thủy lợi phục vụ NTTS bền vững


* Các dự án thủy lợi cho vùng Nam QL1A thuộc Chương trình chống biến đổi khí hậu đang được đề xuất đầu tư vốn

1. Dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống đê biển và đê sông Bạc Liêu (Chương trình 667): Tổng vốn đầu tư 2.500 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2012 - 2020.

2. Dự án chuyển nước ngọt từ vùng Bắc QL1A sang vùng Nam QL1A: Tổng vốn đầu tư: 2.000 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2015 - 2020.

3. Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp vùng Nam QL1A (bao gồm các tiểu dự án):

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình). Quy mô 5.280ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Thịnh (huyện Hòa Bình). Quy mô 2.700ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Long Điền Đông - Long Điền Tây (huyện Đông Hải). Quy mô khoảng 4.000ha.

- Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng vùng nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp xã Vĩnh Trạch, Hiệp Thành (TP. Bạc Liêu). Quy mô 3.020ha.

Tổng vốn đầu tư cho các tiểu dự án này 667 tỷ đồng. Thời gian thực hiện: 2012 - 2015

* Một số dự án thủy lợi trọng điểm ở vùng Nam QL1A nằm trong quy hoạch thủy lợi ĐBSCL định hướng đến năm 2020, do Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư:

1. Kè Gành Hào: Tổng vốn đầu tư: 277 tỷ đồng. Dự án đang được triển khai thực hiện.

2. Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi tôm Long Điền - Đông Hải: Hồ sơ thiết kế đã được Bộ NN&PTNT bàn giao cho Sở NN&PTNT tỉnh tiếp tục xem xét đầu tư.

3. Hệ thống thủy lợi phục nuôi tôm Tắc Vân - Cái Keo: Hồ sơ thiết kế đã được Bộ NN&PTNT bàn giao cho Sở NN&PTNT Bạc Liêu tiếp tục xem xét đầu tư.

4. Xây dựng 2 ô thủy lợi phục vụ NTTS Bạc Liêu:

- Ô thủy lợi Chùa Phật - Cái Cùng. Nguồn vốn ước tính: 67,04 tỷ đồng.

- Ô thủy lợi Cái Cùng - Huyện Kệ. Nguồn vốn ước tính: 24 tỷ 267 triệu đồng.

Dự án đang được triển khai thực hiện.

T.Đ (tổng hợp)

Phủ xanh bờ bao vuông tôm, thu quả ngọt

Giữa vùng đất mặn quanh năm gắn với sự sinh trưởng của con tôm, con cua, người dân xã Tam Giang tận dụng những khoảng đất trống quanh nhà để trồng dưa hấu, không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn mở ra hướng sản xuất linh hoạt, hiệu quả. Những ruộng dưa xanh mướt đang hứa hẹn một vụ mùa bội thu khi Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề.

“Vị ngọt” tôm - lúa hữu cơ

Khi tiết trời se lạnh, những cánh đồng lúa vừa gặt xong nhường chỗ cho con nước mặn tràn về, cũng là lúc tôm bắt đầu lớn lên trong lớp phù sa mặn - ngọt giao hoà. Ở Cà Mau, vòng quay mùa vụ không chỉ tạo nên nhịp sống đặc trưng mà còn hình thành mô hình sản xuất bền vững đang hoà nhịp cùng xu thế phát triển xanh của cả nước: tôm - lúa hữu cơ.

Vĩnh Lộc: Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại

Đó là chỉ đạo của đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, đối với định hướng phát triển nông nghiệp của xã Vĩnh Lộc. Là xã thuần nông, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến thất thường, một bộ phận nông dân còn giữ tư duy sản xuất cũ và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Xuân về trên những cánh đồng

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón Tết ở Xã Nguyễn Phích rộn ràng, phấn khởi hơn mọi năm. Trên những cánh đồng lúa - tôm trải dài, niềm vui hiện rõ trên gương mặt người dân khi năm nay vừa trúng tôm càng xanh, vừa trúng lúa. Sau một năm cần mẫn bám đất, bám rừng, bà con có thêm điều kiện đón một cái Tết đủ đầy, ấm áp.

Ðặc sản OCOP vào vụ Tết

Những ngày giáp tết Nguyên đán, tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP bước vào cao điểm nhằm kịp cung ứng hàng hoá cho thị trường Tết. Bên cạnh tăng sản lượng, các cơ sở OCOP còn chú trọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu, từng bước đưa nông sản địa phương khẳng định vị thế trên thị trường.

Làng nghề ép chuối khô vào mùa Tết

Những ngày cận Tết tại xã Khánh Hưng, không khí lao động tại các hộ làm nghề ép chuối khô tất bật hơn thường ngày để kịp cung ứng cho thị trường Tết Bính Ngọ 2026. Thương lái bắt đầu về tận nơi thu mua, vận chuyển chuối ép khô lên các tỉnh vùng trên tiêu thụ.

Ðặc sản khô Tết lên sàn

Những ngày này, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh trong tỉnh tất bật vào vụ sản xuất các mặt hàng khô. Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, người dân mạnh dạn tận dụng công nghệ, đưa đặc sản lên sàn thương mại điện tử, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ra mắt phần mềm Nông nghiệp

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị công bố chính thức Phần mềm Nông nghiệp Cà Mau và Cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh. Dự hội nghị có lãnh đạo sở, các đơn vị trực thuộc và đại diện lãnh đạo các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Ðòn bẩy nâng tầm đặc sản Cà Mau

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản địa phương, bảo hộ sở hữu trí tuệ đang trở thành “chìa khoá” quan trọng, giúp các đặc sản Cà Mau khẳng định uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng, gìn giữ và phát huy tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc trưng không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.

Thay đổi nhỏ, giá trị lớn

Những thay đổi nhỏ trong canh tác, từ việc điều chỉnh quy trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến cách thức tổ chức sản xuất... đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân, với thu nhập tăng thêm từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi năm.