Thứ ba, 3-2-26 16:45:39
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Khẳng định sứ mệnh lịch sử với dân tộc và thời đại

Báo Cà Mau (CMO) Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930, đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong thế kỷ XX. Trải qua 91 năm trường tồn cùng dân tộc, có lúc phải nhận những thất bại tạm thời, song với bản lĩnh cách mạng vững vàng, sáng tạo, kiên định mục tiêu con đường đã lựa chọn, Ðảng đã lãnh đạo Nhân dân và cả dân tộc phát triển toàn diện.

Tranh: Minh Tấn

Vượt qua kẻ thù

Sau thắng lợi của cao trào Xô Viết - Nghệ Tĩnh, năm 1932-1935, bọn đế quốc và tay sai tiến hành đàn áp, khủng bố trắng nhằm mục đích dìm phong trào cách mạng trong biển máu. Chúng ra sức truy bắt, cầm tù, chém giết những chiến sĩ cách mạng và quần chúng. Các cơ quan lãnh đạo của Ðảng từ Trung ương và địa phương lần lượt bị địch phá vỡ. Hầu hết cơ sở quần chúng của Ðảng cũng bị khủng bố dã man. Chúng giết hại rất tàn bạo những người cộng sản. Từ năm 1931 đến 1932, hầu hết các đồng chí Uỷ viên Trung ương Ðảng, các đồng chí trong Xứ uỷ Nam Kỳ, Xứ uỷ Trung Kỳ và Xứ uỷ Bắc Kỳ đều bị bắt và bị sát hại.

Khó khăn chồng chất khó khăn, nhưng những đồng chí trung kiên của Ðảng không hề nao núng. Ở các nhà tù: Hoả Lò, Khám Lớn, Côn Ðảo, Kon Tum…, những đảng viên cộng sản một mặt đấu tranh chống tra tấn của kẻ thù; mặt khác biến nhà tù thành trường học chủ nghĩa Mác-Lênin, về lý tưởng cộng sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này đã đánh giá: “Biến được cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa, việc đó lại chứng tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những không ngăn trở được bước tiến của cách mạng, mà trái lại nó đã trở nên một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng càng thêm cứng rắn. Mà kết quả cách mạng đã thắng, đế quốc đã thua”.

Thách thức sau Cách mạng Tháng Tám

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng non trẻ phải gánh chịu hậu quả nặng nề do chế độ cũ để lại. Nạn đói năm 1945 làm chết hơn 2 triệu đồng bào vẫn tiếp diễn, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ bị vỡ đê, mất mùa; 95% người dân mù chữ, các tệ nạn xã hội phổ biến ở nhiều nơi; cán bộ ở các cấp, các ngành chưa có kinh nghiệm quản lý xã hội; ngân sách quốc gia trống rỗng; các thế lực thù địch mượn cớ vào giải giáp vũ khí quân đội Nhật, ở miền Bắc, 20 vạn quân Tưởng, cùng bọn phản động Việt Quốc, Việt Cách kéo vào chiếm đóng, đòi ta phải thay đổi Quốc kỳ, Quốc ca, giao quyền kiểm soát nhiều bộ trong Chính phủ, phải cung cấp lương thực, thực phẩm cho chúng khi đồng bào đang thiếu đói. Ở miền Nam, quân đội Anh kéo đến chiếm đóng, sau quân đội Anh, quân đội Pháp gây hấn ở nhiều nơi hòng lật đỗ chính quyền cách mạng. Trong tình thế bất lợi, buộc đồng bào, chiến sĩ Nam Bộ phải cầm vũ khí tiến hành cuộc kháng chiến vào ngày 23/9/1945.

Trước vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”, với hơn 5.000 đảng viên, sự mưu trí, sáng tạo của mình, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối “kháng chiến kiến quốc”. Khéo lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù hoà với Tưởng để chống Pháp, rồi lại hoà với Pháp để đuổi Tưởng, diệt bọn Việt gian bán nước… Ðường lối đúng đắn, sáng tạo của Ðảng đã bảo vệ được chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền độc lập dân tộc được giữ vững, Nhân dân Việt Nam tiến hành 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược giành thắng lợi.

Thách thức trong đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, đất nước ta tạm thời bị chia cắt, đế quốc Mỹ đặt ách thống trị chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Trước kẻ thù mới, một thách thức đặt ra cho toàn Ðảng và toàn dân tộc là giải phóng miền Nam như thế nào mà không để chiến tranh lan rộng; tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam nhưng đồng thời phải bảo vệ được thành quả cách mạng XHCN ở miền Bắc. Một nhiệm vụ đầy khó khăn, thách thức đặt ra với toàn Ðảng và toàn dân tộc.

Trước những khó khăn, phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, tháng 12/1957, Hội nghi lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương khoá II, Ðảng ta nhận định: “Ta đang đồng thời chấp hành hai chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Hai cuộc cách mạng khác nhau nhưng cùng nhằm một mục tiêu chung của cả nước là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Ðường lối cách mạng đó được Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (tháng 9/1960) bổ sung, phát triển. Nghị quyết Ðại hội III chỉ rõ: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh...

Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng ở miền Nam là: đoàn kết toàn dân kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến; đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Ðình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam; thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống Nhân dân; giữ vững hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Ðông - Nam Á và thế giới.

Ðó là đáp án duy nhất đúng đắn cho tình hình Việt Nam giai đoạn này, thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Ðảng. Sự đúng đắn và sáng tạo trong đường lối cách mạng của Ðảng (1954-1975) được thể hiện trong việc xử lý mối quan hệ các vấn đề chiến tranh và cách mạng; giữa đấu tranh cách mạng và bảo vệ hoà bình; giữa lợi ích dân tộc và quốc tế, phản ánh đúng quy luật của cách mạng từng miền và cả nước; đồng thời phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới. Sự đúng đắn, sáng tạo trong đường lối cách mạng của Ðảng đã được toàn thể Nhân dân hưởng ứng, tranh thủ được sự ủng hộ của các trào lưu cách mạng tiến bộ trên thế giới, ta đã đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn nhất, ác liệt nhất, dài ngày nhất trong lịch sử chiến tranh của dân tộc Việt Nam, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Thử thách trong xây dựng chủ nghĩa xã hội

Sau thắng lợi vẻ vang của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (30/4/1975), cả nước cùng quá độ lên CNXH. Ðảng ta chuyển sang lãnh đạo tiến hành cách mạng XHCN, nhưng do hạn chế bởi tư duy và cơ chế cũ, nhiều chủ trương của Ðảng không phù hợp với tính chất và nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Trong nước, nền kinh tế bị khủng hoảng trầm trọng, lạm phát tăng cao, không ít cán bộ, đảng viên bi quan, dao động… Qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm từ thực tiễn về xu hướng phát triển của đất nước và thời đại, tháng 12/1986, tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Ðảng đã tiến hành đường lối đổi mới đất nước.

Tại Ðại hội VI, Ðảng đã thẳng thắn thừa nhận những sai lầm, và quyết tâm tìm phương sách sửa chữa. Ðó là bản lĩnh chính trị và trách nhiệm của Ðảng trước vận mệnh của đất nước, sự tồn vong của chế độ. Ðại hội VI đã đánh dấu bước trưởng thành của Ðảng về đường lối cách mạng XHCN. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành đường lối đổi mới theo định hướng XHCN, sự biến đổi của tình hình quốc tế và trong nước đã đặt Ðảng ta trước những thách thức gay gắt nhất.

Cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp một loạt nước XHCN ở Ðông Âu và Liên Xô trong thực hiện cải tổ, cải cách phạm nhiều sai lầm dẫn đến sụp đổ. Những người cộng sản trên toàn thế giới đứng trước cuộc chấn động chính trị quốc tế chưa từng có, một bộ phận không nhỏ hoang mang, dao động, mất phương hướng… Trong bối cảnh đó, Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định con đường CNXH, tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới có nguyên tắc: Trên lập trường của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Ðảng kịp thời lãnh đạo khắc phục những sai lầm, khuyết điểm, chủ trương đổi mới kinh tế là trọng tâm, xây dựng Ðảng là then chốt để đưa đất nước tiếp tục phát triển đúng định hướng XHCN.

Những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới của Ðảng là cơ sở lý luận và thực tiễn đúng đắn, khoa học nhất về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng đã thành công rất tốt đẹp trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp. Với chủ đề: “Ðoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Sáng tạo - Phát triển”, chúng ta tin tưởng vào trí tuệ, đạo đức của Ðảng, của Ban Chấp hành Trung ương, đại hội đã đề ra đường lối đúng đắn xây dựng nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thể hiện khát vọng và vị thế của Việt Nam trên đường hội nhập./.

 

Châu Hồng Nhiên

 

Đảng thật sự vì dân, dân bền lòng tin Đảng

Từ mùa xuân Pác Bó đến khát vọng kỷ nguyên vươn mình

Vào ngày 28/1/1941, một sự kiện đã làm thay đổi vĩnh viễn dòng chảy lịch sử của dân tộc Việt Nam: Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Ðứng tại cột mốc 108 giữa vùng biên viễn Cao Bằng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc ấy không chỉ mang theo hành trang là chủ nghĩa Mác - Lênin và kinh nghiệm cách mạng thế giới, mà còn cả khát vọng độc lập cháy bỏng và tầm nhìn chiến lược thiên tài.

Ðối thoại để giải quyết tranh chấp, khiếu nại

Tăng cường đối thoại giữa người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền với Nhân dân là giải pháp quan trọng nhằm lắng nghe, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, kịp thời giải quyết các bức xúc, tạo sự đồng thuận xã hội, qua đó củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Ðảng, chính quyền và Nhân dân. Thông qua việc đổi mới phương thức tiếp dân, đẩy mạnh đối thoại trực tiếp tại cơ sở, ứng dụng công nghệ thông tin và đi sâu, đi sát trong giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn ngay từ cơ sở, nhiều địa phương đã góp phần giảm thiểu mâu thuẫn phát sinh, hạn chế tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài.

Trụ cột giữ vững kỷ cương, bảo vệ công lý

Công tác nội chính Ðảng là lĩnh vực đặc biệt quan trọng, trực tiếp góp phần giữ vững kỷ cương, phép nước, bảo đảm công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Xuyên suốt 60 năm xây dựng và trưởng thành, kể từ ngày 5/1/1966, ngành nội chính Ðảng luôn khẳng định vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược của Ðảng về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; góp phần xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tập trung cao độ, phối hợp chặt chẽ trong công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng

Chiều 7/1, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Trần Cẩm Tú, Uỷ viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Tiểu ban Tổ chức phục vụ Đại hội XIV của Đảng, chủ trì làm việc với Văn phòng Trung ương Đảng và các cơ quan liên quan về công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Bước chuyển lớn của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo

Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII, có thể khẳng định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã có bước chuyển căn bản từ tư duy, thể chế đến tổ chức thực hiện và kết quả thực tiễn, đóng góp ngày càng rõ nét vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

10 chữ về quyết tâm chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của Tổng Bí thư

Tổng Bí thư Tô Lâm khái quát bài học kinh nghiệm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực bằng 10 chữ để dễ nhớ, dễ thực hiện: “Kiên trì - Quyết tâm - Đồng thuận - Toàn diện - Đột phá”.

Đại hội XIV - Dấu mốc lịch sử của đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh

Chỉ còn chưa đầy một tháng nữa, Đảng ta sẽ tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Đây là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nâng cao sức mạnh của Ðảng thông qua kiểm tra, giám sát

Năm 2025, uỷ ban kiểm tra (UBKT) các cấp trong tỉnh thực hiện cùng lúc nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, có ý nghĩa lịch sử, vừa sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; vừa tổ chức đại hội đảng bộ các cấp... Khối lượng công việc lớn, ngành Kiểm tra Ðảng của tỉnh đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh của Ðảng.

Khi từng cá nhân làm tốt, bộ máy sẽ vận hành thông suốt, hiệu quả

Mỗi cán bộ, đảng viên cần nỗ lực thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao; phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, dám nghĩ, dám làm, hành động quyết liệt, tạo chuyển biến rõ nét trong tư tưởng và hành động. Khi từng cá nhân làm tốt phần việc của mình, bộ máy sẽ vận hành thông suốt, hiệu quả, giảm áp lực cho cấp trên.