Thứ hai, 13-4-26 17:54:12
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV

Báo Cà Mau Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Báo và phát thanh, truyền hình Cà Mau trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các cấp uỷ đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương,

Thưa các đồng chí đảng viên, cán bộ, đồng bào cả nước.

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khoá XIV. Hội nghị đã được nghe 5 nội dung chuyên đề chi tiết, cụ thể do các đồng chí Lãnh đạo các cơ quan Trung ương trình bày. Tôi cơ bản nhất trí với những định hướng thực hiện đối với các chuyên đề đó.

Hôm qua, tôi có trả lời báo Quân đội Nhân dân liên quan đến nhiệm vụ triển khai các Nghị quyết của Đảng, trong đó có những nội dung liên quan đến các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá XIV (Nhiều báo hôm nay đã đăng toàn văn). Các đồng chí có thể tham khảo thêm.

Những diễn biến nhanh, rộng của tình hình quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến văn hoá, khoa học kỹ thuật, làm thay đổi nhiều trật tự đã được thiết lập trên phạm vi toàn cầu. Trong nước, sau thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội khoá XVI và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; Kết quả của đợt 1- kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; Cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự, của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả.

Tôi cho rằng: yêu cầu đặt ra sau Hội nghị lần này là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan toả thành động lực phát triển trong toàn xã hội.

Trên tinh thần đó, tôi xin nhấn mạnh thêm 05 vấn đề sau đây:

Thứ nhất: phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng các quy định của Đảng là thể chế bản lề bảo đảm Đảng ta vận hành như một khối thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hoá tầm nhìn đó, tổ chức hoá ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.

Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng thời cũng phải đáp ứng với những yêu cầu rất cao, rất mới, rất lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn Đảng càng trở thành yếu tố then chốt nhằm nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.

Thực tiễn cho thấy, ở đâu quy định được quán triệt nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, ở đó kỷ cương được giữ vững, tổ chức được củng cố, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao. Ngược lại, nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động, làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra là mỗi cấp uỷ, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được thực hiện thống nhất, đồng bộ, nhất quán từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích, biểu dương các cách làm hay, sáng tạo theo quy định.

Thứ hai: Đổi mới căn bản tư duy phát triển, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực và vốn để tăng trưởng bền vững

Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước.

Do đó, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.

Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.

Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Đặc biệt, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân. Khi được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hoá thành động lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế.

Thứ ba: Kiên quyết khắc phục tư duy cục bộ địa giới hành chính, cục bộ ngành, cục bộ nhiệm kỳ trong quy hoạch phát triển.

Quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hoá. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai. Nếu quy hoạch được làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún, mạnh ai nấy làm, thì không những không mở ra không gian phát triển mới, mà còn tạo ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy liên kết, và kéo tụt hiệu quả phát triển chung, thậm chí kìm hãm sự phát triển.

Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông- toả Tây", "trục Bắc-Nam liền dải"- đó là tầm nhìn tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sâu vào phía Tây đất nước; trục Bắc- Nam như dải xương sống của cơ thể con người. Từ nền tảng đó, mỗi quyết định phát triển phải được xem xét trong quan hệ hữu cơ với hạ tầng, năng lượng, dân cư, lao động, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, và yêu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.

Đặc biệt, trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới. Năng lượng phải được đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trong tương quan với công nghiệp, đô thị, logistics, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc gia, phải đảm bảo tự chủ.

Đi liền với quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, được xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự. Không thể đầu tư lớn mà tiêu chuẩn thấp, làm nhanh mà chất lượng không bảo đảm. Càng không thể xây dựng hôm nay mà ngày mai đã lạc hậu, thiếu đồng bộ, khó kết nối, khó khai thác. Phải đưa tầm nhìn hàng thế kỷ vào quy hoạch tổng thể.

Một dự án tốt phải được đánh giá dựa trên tác động phát triển và hiệu quả kinh tế - xã hội thực chất, trong đó mức độ thụ hưởng của người dân là tiêu chí trung tâm. Tuyệt đối, không lấy quy mô vốn thay cho hiệu quả, không lấy số lượng dự án thay cho chất lượng tăng trưởng, càng không lấy tốc độ giải ngân bề ngoài thay cho hiệu quả dài hạn. Mỗi đồng vốn bỏ ra, dù là vốn nhà nước hay vốn xã hội, đều phải được tính toán cẩn trọng về hiệu quả, độ lan tỏa, khả năng kích hoạt đầu tư tiếp theo, khả năng tạo việc làm, tạo giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng phúc lợi xã hội.

Thứ tư, giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực trong dân, đảm bảo mỗi người dân, mỗi gia đình, mỗi hộ kinh doanh, mỗi doanh nghiệp đều trở thành chủ thể của tăng trưởng.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.

Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khoẻ mạnh. Vì vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.

Vì vậy, phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.

Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng, và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Sau gần một năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vượt qua giai đoạn khởi động ban đầu, bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt, và đang chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực, hiệu quả thực chất. Dự kiến tháng 7 sẽ sơ kết 1 năm thực hiện mô hình này.

Tuy nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức mạnh, cần được nhìn nhận trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia, với một nguyên lý xuyên suốt, đó là: "Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát, địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống". Năm 2026, Trung ương đã xác định là "Năm cán bộ cơ sở", từng cơ sở phải thay đổi.

Để hiện thực hoá tư duy này, trước hết cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định. Cấp xã phải được phân quyền rõ ràng, gắn với nguồn lực và trách nhiệm cụ thể, để có thể chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh, từ hạ tầng, dịch vụ xã hội đến quản lý kinh tế - xã hội. Quyền hạn gắn liền trách nhiệm sẽ tạo ra hiệu quả thực chất, tránh chồng chéo và trì trệ trong quản lý.

Tiếp đó, cấp xã mạnh về huy động nguồn lực sẽ giúp cấp tỉnh chủ động hơn trong việc điều phối và triển khai các dự án chiến lược. Cấp xã là nơi kết nối trực tiếp các nguồn lực xã hội, kinh tế và nhân lực địa phương. Khả năng huy động và phân bổ hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn lực được sử dụng tối ưu, nâng cao năng lực thực thi của cả hệ thống chính quyền hai cấp.

Cuối cùng là cấp xã mạnh về giám sát và phản hồi. Cấp xã năng động sẽ cung cấp dữ liệu và thông tin chính xác về thực trạng và nhu cầu của người dân, từ đó giúp cấp tỉnh ra quyết sách phù hợp, kịp thời và chính xác. Đây chính là cơ chế tạo sức bật, đảm bảo hiệu lực tổng thể của chính quyền địa phương hai cấp.

Để cấp xã trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh, mọi nghị quyết, chính sách và dự án phải được chuyển hoá thành hành động cụ thể. Đồng thời, các quyết định này phải hướng trực tiếp tới nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và củng cố năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây cũng chính là nền tảng để bảo đảm sự thông suốt, kỷ luật và hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị,

Những nội dung tôi vừa trao đổi không chỉ là những yêu cầu cụ thể trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, mà là những vấn đề có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.

Tôi đề nghị các cấp uỷ, tổ chức đảng, các đồng chí cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt mình trong tổng thể chung, nhìn rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong bức tranh phát triển chung của đất nước, từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ luật và có hiệu quả.

Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hoá thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Xin chúc các đồng chí sức khoẻ, hạnh phúc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Xin trân trọng cảm ơn.

Nguồn: baochinhphu.vn

Lan toả tinh thần đoàn kết dịp Tết Chôl Chnăm Thmây

Chiều 11/4, đoàn công tác do đồng chí Hồ Trung Việt, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh uỷ, làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết tại chùa Đìa Muồng (xã Phước Long), chùa Xiêm Cán (phường Hiệp Thành) và chùa Cái Giá Chót (xã Hưng Hội).

Ấm áp Tết Chôl Chnăm Thmây nơi phum sóc Cà Mau

Nhân dịp Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của đồng bào Khmer, lãnh đạo tỉnh Cà Mau đã tổ chức nhiều đoàn đến thăm, chúc Tết tại các chùa và địa bàn có đông đồng bào Khmer sinh sống, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.

Thủ tướng Lê Minh Hưng gửi thư chúc Tết Chôl Chnăm Thmây đồng bào Khmer

Ngày 10/4, trong không khí vui mừng chào đón Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây năm 2026 của dân tộc Khmer, thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Thủ tướng Lê Minh Hưng có thư gửi tới toàn thể đồng bào, đồng chí và chư tăng dân tộc Khmer tình cảm thân thiết, lời thăm hỏi ân cần, lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất.

Nghị quyết 80 - Ðưa văn hoá thấm sâu vào đời sống

Trong suốt chiều dài hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, văn hoá luôn hiện diện như sợi chỉ đỏ bền bỉ, kết tinh trí tuệ, tâm hồn và bản lĩnh Việt Nam qua mỗi bước thăng trầm của lịch sử. Không chỉ là nền tảng tinh thần, văn hoá còn là sức mạnh nội sinh, âm thầm dẫn dắt dân tộc vượt qua thử thách, thích ứng và vươn mình trong mọi thời đại.

Quyết tâm giữ màu xanh của rừng trong cao điểm mùa khô

Nắng nóng gay gắt kéo dài từ sáng sớm đến chiều muộn trong những ngày qua khiến lượng nước tại rừng U Minh Hạ tiếp tục bốc hơi mạnh, trong khi nguồn dự trữ đã suy giảm nghiêm trọng. Nguy cơ cháy rừng vì thế liên tục gia tăng, nhiều khu vực nâng lên mức cảnh báo cao.

Nhất quán chủ trương “Đảng cử - dân bầu” trong Nhà nước pháp quyền XHCN

Bầu cử là một trong những thiết chế dân chủ quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Thông qua bầu cử, Nhân dân trực tiếp lựa chọn những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình tham gia vào bộ máy quyền lực Nhà nước. Ở Việt Nam, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp không chỉ là hoạt động chính trị - pháp lý định kỳ, mà còn là ngày hội lớn của toàn dân, thể hiện sinh động quyền làm chủ của Nhân dân trong chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bàn giao công tác giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nguyên Chủ tịch nước Lương Cường

Chiều 9/4, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức trọng thể Lễ bàn giao công tác của Chủ tịch nước giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và nguyên Chủ tịch nước Lương Cường.

Đoàn công tác tỉnh Cà Mau thăm, chúc Tết tại Cục Phát triển, Bộ Quốc phòng Campuchia

Sáng 9/4, đoàn công tác tỉnh Cà Mau do Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Vũ Thăng làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết Chôl Chnăm Thmây tại Cục Phát triển, Bộ Quốc phòng Campuchia. Tiếp đoàn có Trung tướng Ouk Hoeunpisey, Cục trưởng Cục Phát triển.

Phường Bạc Liêu tạo chuyển biến trong thực hiện 4 nghị quyết chiến lược

Ngày 9/4, phường Bạc Liêu tổ chức hội nghị sơ kết quý I, triển khai nhiệm vụ quý II và tổng kết công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Dự và chỉ đạo hội nghị có đồng chí Tô Việt Thu, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch HĐND phường.

Lãnh đạo tỉnh thăm, chúc Tết Chôl Chnăm Thmây và tặng quà đồng bào Khmer

Nhân dịp Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer, Đoàn công tác của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND, Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau do đồng chí Huỳnh Hữu Trí, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ, làm trưởng đoàn đến thăm, chúc Tết và tặng quà tại Chùa Kos Thum (xã Ninh Thạnh Lợi), Chùa Đầu Sấu và Ngan Dừa (xã Hồng Dân).