Thứ ba, 3-2-26 16:18:10
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Muối Bạc Liêu: “Tuyệt diệu và độc đáo”

Báo Cà Mau

Khi nghiên cứu về muối Bạc Liêu, các nhà khoa học đã chỉ ra những nét đặc thù rất thú vị gắn liền với nguồn gốc xuất xứ của asản phẩm. Muối được sản xuất ở Bạc Liêu có một hương vị đậm đà, rất độc đáo, vì trong muối có hàm lượng ma-giê, can-xi, sun-fat... rất thấp, do không có các vùng đá vôi ven biển, không gây vị đắng khó chịu. Điều đó đã làm cho muối Bạc Liêu trở nên nổi tiếng từ xưa.

Nổi tiếng khắp nơi

Người Hoa được coi là tiên phong khi chọn vùng ven biển Bạc Liêu để sản xuất muối, vì đây là vùng có độ bay hơi nước biển rất cao với trên 1.000mm/năm, độ hấp thụ nhiệt của đất rất mạnh, kết cấu chặt của đất, các nguyên tố vi lượng của nước biển, đặc biệt là không có sự hiện diện của các ion kim loại nặng... Từ đó, tạo lợi thế cho việc sản xuất muối theo phương pháp phơi nước kết tinh dài ngày để tạo thành loại muối Bạc Liêu “tuyệt diệu và độc đáo”.

Diêm dân xã Điền Hải (huyện Đông Hải) thu hoạch muối. Ảnh: L.D

Hạt muối Bạc Liêu xưa còn được nhiều người sử dụng như một vị thuốc dân gian trong đời sống. Những cụ già ở đây vẫn còn biết được các hạt muối cất giữ trong các keo thủy tinh được chôn trong đất có tác dụng chữa một số bệnh rất hiệu nghiệm.

Người Nhật đã nhận ra hương vị độc đáo của muối Bạc Liêu, vì vậy, năm 2002, Công ty chuyên kinh doanh hàng thực phẩm Asia Trading Corp. (Nhật Bản) đã cử các chuyên gia đến khảo sát để đánh giá chất lượng muối Bạc Liêu phục vụ cho tiêu dùng và đời sống. Ông Takeyoshi Matsuda, Chủ tịch Công ty chuyên kinh doanh hàng thực phẩm Asia Trading Corp. nhận xét: “So với nhiều nước, muối ăn Việt Nam rất ngon, nhưng ngon nhất vẫn là hạt muối Bạc Liêu”. Năm 2002, hơn 5.000 tấn muối tinh của Bạc Liêu đã được Asia Trading Corp. mua, đưa về Nhật chế biến làm muối ăn để bán. Đầu năm 2003, số lượng ký kết mua muối Bạc Liêu đã tăng lên hơn 10.000 tấn. Hạt muối Bạc Liêu đã có mặt trên các siêu thị Nhật, nhất là tại tỉnh Nagoya - nơi Asia Trading Corp. đặt hội sở chính. Với những gói muối ăn mang nhãn hiệu Shakuenno Shio hay Joisei Shio (định lượng 0,5kg/gói) được đóng bao bì đẹp mắt, hạt muối Bạc Liêu đã trở thành món hàng chính hiệu của Nhật Bản.

Chất lượng hàng đầu

So với những vùng sản xuất muối khác, muối Bạc Liêu có tính chất, chất lượng rất đặc thù và rất dễ nhận biết. Muối có màu trắng, trắng hồng, ánh xám, không mùi, vị mặn, không vị đắng và hạt khô, chắc. Trong đó, muối không có vị đắng là một yếu tố đặc thù tạo nên sự khác biệt của muối Bạc Liêu so với muối của các tỉnh khác. Có được sự khác biệt này là do muối Bạc Liêu có hàm lượng NaCl cao vượt trội và hàm lượng MgCl2 trong muối thấp. Muối sản xuất tại Bạc Liêu có hàm lượng NaCl trung bình 96,3%. So sánh với tiêu chuẩn muối thô Việt Nam (86,8%) và muối ở các tỉnh khảo sát khác thì tỷ lệ NaCl của muối Bạc Liêu hoàn toàn cao hơn. Đặc biệt, hàm lượng MgCl2 trong muối Bạc Liêu thấp (0,76 - 0,89%) nên muối không có vị đắng khó chịu. Đây là tiêu chí quan trọng quyết định tính đặc thù và khác biệt của muối Bạc Liêu so với muối các tỉnh khác.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, các điều kiện sau đây có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng đặc thù của muối Bạc Liêu. Đó là Bạc Liêu thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên bán đảo Cà Mau, miền đất cực Nam của Việt Nam, nên vùng biển Bạc Liêu không có đá vôi. Do đó nước biển có hàm lượng ma-giê, can-xi, sun-fat thấp, là yếu tố tạo nên muối không có vị đắng, chát. Hơn nữa, ven biển phía Đông Bạc Liêu chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều biển Đông, với biên độ trung bình 1,9m (cao nhất 3,5m); lượng nước sông Mê Kông đổ ra biển ít hơn và không mang phù sa làm ảnh hưởng đến màu sắc và chất lượng hạt muối.

Bên cạnh đó, đất tại vùng sản xuất muối Bạc Liêu chủ yếu là đất bãi bồi và đất pha cát, trong đất đều chứa rất ít disulfua sắt (FeS2). Đất không có biểu hiện của phèn tiềm tàng, hàm lượng các chất hữu cơ trong đất mặt sân muối thấp. Đây là yếu tố quan trọng đối với chất lượng muối. Bởi, nếu đất phèn kết hợp với hàm lượng chất hữu cơ cao, nền đất sản xuất không ổn định sẽ tạo ra sản phẩm muối đen do lẫn nhiều tạp chất. Còn hàm lượng các tạp chất kim loại có trong đất ở dưới ngưỡng thấp nên không ảnh hưởng đến chất lượng muối. Thêm vào đó, hàm lượng sét trong đất mặt sản xuất muối khá cao nên tránh được thất thoát nước biển, giúp tăng sản lượng muối.

Về quy trình sản xuất, muối Bạc Liêu không khác biệt so với kỹ thuật sản xuất của các tỉnh như: Sóc Trăng, Trà Vinh... Tuy nhiên, các ô phân cấp phơi nước trong quy trình sản xuất ở mỗi tỉnh sẽ có tên gọi khác nhau. Cách phơi nước biển theo các cấp “xa kề, nhì kề, xếp chuối” (tiếng phổ thông của người Hoa kiều) là một kỹ thuật sản xuất truyền thống và rất riêng của Bạc Liêu. Trong sản xuất muối, phơi nước là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng muối. Các tạp chất có trong nước biển qua các giai đoạn phơi nước sẽ lắng tụ dần tại các ô bốc hơi và sẽ tạo ra sản phẩm muối trắng, sạch hơn do không lẫn nhiều tạp chất.

Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu (với sự hỗ trợ của Dự án GIZ) đã thử nghiệm quy trình sản xuất muối theo phương pháp phơi nước (dùng bạt nhựa để trải trên nền đất ô kết tinh). Kết quả, chất lượng muối trải bạt rất khác biệt so với muối nền đất. Về cảm quan, muối trải bạt trắng, nặng hơn so với muối nền đất. Về chất lượng lý hóa, hàm lượng NaCl trong muối bạt đạt 97,32% (cao hơn muối nền đất - 96,23%). Các tạp chất không tan trong muối trải bạt cũng thấp hơn muối nền đất. Đặc biệt là sự không có mặt của hàm lượng các ion kim loại nặng đối với sản phẩm muối trải bạt. Phương pháp trải bạt nhằm mục đích nâng cao chất lượng và năng suất muối.

Hiện nay, Bạc Liêu đang đăng ký chỉ dẫn địa lý và tiến tới xây dựng thương hiệu muối Bạc Liêu. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, giá trị kinh tế của hạt muối. Đồng thời, lưu giữ và phát triển nghề muối truyền thống ở Bạc Liêu.

MINH ANH

Công nghệ số, giúp nông nghiệp thêm xanh

Từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp gắn với chuyển đổi số (CÐS), nông dân Cà Mau đã hình thành thói quen ứng dụng công nghệ phục vụ sản xuất, tiệu thụ sản phẩm. Một nền nông nghiệp hiện đại, xanh hoá, hướng tới nông thôn thông minh, nâng cao thu nhập và đời sống cho nông dân ngày càng rõ nét từ bước đi quan trọng này.

Trên 216 tỷ đồng đầu tư hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số

Chủ tịch UBND tỉnh vừa phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ công tác chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng tỉnh Cà Mau, giai đoạn 2025-2028.

Ðộng lực then chốt của sự phát triển

Khoa học công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo đã và đang trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trên địa bàn tỉnh Cà Mau thời gian qua, nhiều dự án nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ được triển khai hiệu quả, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề môi trường, chống biến đổi khí hậu và hướng tới phát triển xanh, bền vững.

Chuyển đổi số ở cấp xã, thay đổi để phục vụ tốt hơn

Từng quen với việc chờ đợi, rồi quay về bổ sung và không rõ khi nào có kết quả, không ít người dân e ngại mỗi khi đến trụ sở xã làm thủ tục hành chính (TTHC). Hiện nay, tại nhiều địa phương, thực trạng đó đang dần thay đổi.

Cà Mau, bứt phá trong chuyển đổi số

Ðầu năm 2026, công tác cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số (CÐS) tại Cà Mau ghi nhận những chuyển biến rõ nét, thể hiện qua chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng được nâng lên. Từ đổi mới mô hình tổ chức bộ máy đến chuẩn hoá quy trình giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) trên môi trường số, tỉnh từng bước khẳng định hướng đi đúng đắn, khi vươn lên nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước về mức độ phục vụ trên môi trường số.

Cà Mau và Viettel bàn nội dung hợp tác về khoa học, công nghệ, chuyển đổi số

Chiều 12/1, UBND tỉnh Cà Mau có buổi làm việc với Tập đoàn Viettel nhằm thông qua các nội dung phối hợp trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Lan toả giá trị văn hoá qua bảo tàng số

Hoà trong dòng chảy chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, tỉnh Cà Mau xây dựng bảo tàng số - mô hình kết hợp công nghệ hiện đại với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá bản địa. Với hình thức này, Bảo tàng tỉnh Cà Mau (phường Bạc Liêu) mở ra không gian trải nghiệm sống động, đưa di sản đến gần hơn với công chúng trong và ngoài nước.

Khoa học - Công nghệ, động lực phát triển ngành tôm

Thời gian qua, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW trên địa bàn tỉnh Cà Mau đạt nhiều kết quả tích cực, thể hiện sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Các cấp, các ngành từng bước hình thành nền tảng thể chế, tổ chức và dữ liệu số, tạo tiền đề quan trọng để tỉnh phát triển nhanh, bền vững dựa trên khoa học - công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (CÐS).

Chuyển đổi số - Bước chuyển của tư duy

Trong nhịp chuyển động sôi nổi của đất nước trên hành trình tiến vào kỷ nguyên mới, vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc cũng bước vào giai đoạn chuyển mình. Trong đó, chuyển đổi số (CÐS) đang trở thành mạch nguồn mới cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. CÐS tại Cà Mau đâu chỉ là câu chuyện về công nghệ, dữ liệu hay hệ thống, mà quan trọng hơn là sự thay đổi về tư duy, cách làm việc và thói quen sử dụng dịch vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, người dân và doanh nghiệp (DN).

Vì một Cà Mau số hoá - sáng tạo - vươn xa

Năm 2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng của tỉnh Cà Mau trong triển khai đồng bộ các chủ trương lớn của Trung ương về phát triển khoa học - công nghệ (KHCN), đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (CÐS). Với việc đồng bộ hoá hạ tầng số, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với quyết tâm cao, tỉnh gặt hái được những thành tựu mang tính bước ngoặt, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.