Thứ năm, 18-6-26 16:56:34
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Mỹ áp thuế đối ứng - Lối đi nào cho con tôm xuất khẩu?

Báo Cà Mau So với các quốc gia khác, Việt Nam là một trong những nước được Tổng thống Mỹ Donald Trump hoãn áp dụng mức thuế đối ứng trong 90 ngày, nhằm mở đường cho các phiên đàm phán, trong đó có con tôm, mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản vốn là thế mạnh kinh tế hàng đầu của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL). Ðiều cần bàn ở đây là không phải đến lúc thị trường tiêu thụ biến động, doanh nghiệp (DN) Việt Nam mới nghĩ đến chuyện ứng phó, mà trở thành vấn đề mang tính sống còn trong tái cơ cấu mô hình tăng trưởng cho ngành tôm, gắn với phát triển bền vững và luôn trong tư thế chủ động.

Thức ăn “ngốn hết” lợi nhuận!?

Bất chấp khó khăn và suy thoái kinh tế, ngành tôm Việt Nam năm 2024 vượt qua nhiều thách thức để đạt kim ngạch xuất khẩu trên 4 tỷ USD, tăng 14% so với năm 2023 và góp phần quan trọng vào kỷ lục 10 tỷ USD của ngành thuỷ sản. Trong đó, dẫn đầu là sự đóng góp của 3 tỉnh nuôi tôm trọng điểm vùng ÐBSCL như: Cà Mau với kim ngạch xuất khẩu con tôm đạt 1.265 triệu USD, Bạc Liêu 1.210 triệu USD và Sóc Trăng hơn 900 triệu USD...

Việc áp dụng mức thuế đối ứng 46% đối với hàng hoá từ Việt Nam nhập khẩu vào Mỹ tuy chưa diễn ra, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề trong việc ứng phó với các kịch bản xấu, nếu như mức thuế sau 90 ngày đàm phán không giảm hoặc giảm không nhiều.

Thực tiễn từ thị trường tiêu thụ con tôm xuất khẩu những năm qua cho thấy Mỹ là một trong những thị trường xuất khẩu tôm truyền thống lớn của Việt Nam, chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu tôm, với giá trị kim ngạch dao động từ 800 triệu đến 1 tỷ USD. Vì vậy, với mức thuế 46% không được điều chỉnh giảm sau đàm phán, chắc chắn con tôm xuất vào thị trường Mỹ sẽ tự “đóng cửa”. Với mức thuế này, doanh nghiệp xuất khẩu chỉ có thua lỗ, nhất là trong điều kiện giá thành sản xuất của con tôm Việt Nam quá cao và không cạnh tranh nổi với con tôm nguyên liệu và cả con tôm xuất khẩu từ các nước nuôi tôm lớn như Ấn Ðộ và Ecuador.

Quan tâm đến vấn đề này vì giá thành sản xuất của con tôm Việt Nam đã vượt mức chịu đựng của nông dân và DN xuất khẩu. Phân tích chuỗi giá trị ngành tôm cho thấy, chiếm khoảng 60% lợi nhuận mang lại từ con tôm đều chủ động “chảy”  vào túi của các DN chế biến thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản và cả con giống. Trong khi phần lớn thị trường béo bở này với trên 90% nằm trong tay quản lý sản xuất, cung cấp từ nước ngoài.

Chế biến thuỷ sản xuất khẩu là thế mạnh kinh tế hàng đầu của khu vực ÐBSCL.

Chế biến thuỷ sản xuất khẩu là thế mạnh kinh tế hàng đầu của khu vực ÐBSCL.

Ðiều đó cũng đồng nghĩa với việc để có được hơn 30% lợi nhuận, nông dân, DN xuất khẩu phải chấp nhận đánh đổi rủi ro và lợi nhuận ròng đều chảy vào khâu cung cấp đầu vào. Hay nói cách khác là DN hoặc đại lý kinh doanh thức ăn, cung cấp vật tư, thuốc thuỷ sản từ ngay khâu đầu tiên của suốt quá trình nuôi tôm, họ đã cầm chắc lợi nhuận. Ðó là chưa tính đến kê lãi khi phải mua thức ăn nợ và thanh toán nợ sau thu hoạch.

Ông Trần Thanh Triều, huyện Ðông Hải, tỉnh Bạc Liêu, có 10 ha nuôi tôm công nghệ cao, cho biết: “Nông dân nào cũng biết việc tiếp cận nguồn thức ăn (đầu vào) trực tiếp từ nhà máy sản xuất sẽ giúp người nuôi tôm tiết kiệm khoảng 50% chi phí, nhưng do thiếu vốn đầu tư nên gia đình phải mua trả chậm qua các đại lý. Ðiều này khiến giá thành sản xuất tôm tăng cao”.

Ông Tạ Hoàng Nhiệm, Chủ tịch Hiệp hội Tôm Bạc Liêu, kiêm Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất, Kinh doanh nuôi tôm công nghệ cao, dẫn chứng, thức ăn cho tôm loại 40 đạm, mua qua đại lý giá 40 ngàn đồng/kg, trong khi mua trực tiếp từ nhà máy chỉ 27-28 ngàn đồng/kg, tức mỗi tấn thức ăn mua qua đại lý cao hơn 12-13 triệu đồng.

Theo tính toán của ông Nhiệm, với quy mô diện tích nuôi thực tế của trang trại ông là 12.000 m2, nếu mua qua đại lý, mỗi vụ nuôi chi phí cao hơn khoảng 700 triệu đồng so với mua trực tiếp từ nhà máy.

Cần tái cơ cấu mô hình tăng trưởng

Thực tiễn cho thấy, giá thức ăn cho tôm ở Việt Nam thường cao hơn so với các nước khác, do phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu. Thị trường thức ăn chăn nuôi chủ yếu phụ thuộc vào các nhà sản xuất quốc tế với các thương hiệu nước ngoài như: Grobest, CP, Tomway... chiếm hơn 95% nguồn cung cấp thức ăn cho con tôm trên thị trường hiện nay. Trong khi chi phí thức ăn thường chiếm khoảng 60% tổng chi phí sản xuất cho mỗi ký tôm.

Hơn nữa, giá thức ăn luôn có xu hướng tăng cao mà không giảm theo biến động kinh tế. Trong khi đó, Thái Lan và Ecuador có nguồn nguyên liệu phong phú và giá cả cạnh tranh hơn. Ðồng thời, các trang trại lớn nuôi tôm ở Thái lan, Ecuador mua thức ăn, thuốc thuỷ sản, vật tư... trực tiếp từ nhà máy thức ăn, công ty bán vật tư hoặc nhà phân phối cấp 1, nên không phải gánh thêm các khoản chi phí phát sinh hay qua nhiều khâu trung gian như ở Việt Nam.

Chính sức ép này đã đẩy nhiều hộ nuôi tôm “chậm lớn”, khi tất cả chi phí đầu tư đầu vào đều bị thức ăn “ngốn hết”, dẫn đến thực trạng trúng tôm nhưng vẫn lỗ nếu như tôm bị mất giá. Người nuôi tôm phải “cõng” thêm khoản chi phí phát sinh rất lớn khác chính là lãi phát sinh từ việc mua nợ thức ăn từ các đại lý theo hình thức đến cuối vụ, thu hoạch mới thanh toán, gần như hơn 90% lỗ vốn là do phải trả tiền chi phí đầu tư cho thức ăn.

Theo ông Phạm Hoàng Minh, Giám đốc Ban Quản lý Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao phát triển tôm tỉnh Bạc Liêu: Thức ăn cho tôm của Việt Nam phần lớn bị các tập đoàn đa quốc gia có trụ sở tại châu Á chi phối, như: CP Việt Nam (CP Foods, Thái Lan), Grobest Việt Nam (Ðài Loan), Sheng Long Biotech (công ty con của Guangdong Haid, Trung Quốc), Uni-President (Ðài Loan) và Evergreen (Trung Quốc). Qua thống kê cho thấy, tổng lượng cung hằng năm cho tôm ước khoảng trên 1 triệu tấn các loại, được các công ty thiết lập hệ thống phân phối đến tận tay người nuôi (thông thường phải qua ít nhất 2 cấp đại lý). Vì vậy, giá bán đến người tiêu dùng chênh lệch so với giá xuất xưởng từ 20-30%. Ðây chính là nguyên nhân làm cho giá thành sản xuất con tôm của nông dân Việt Nam tăng cao so với các nước khác (được đầu tư thức ăn trực tiếp từ nhà máy).

Nông dân sử dụng thuốc thú y thuỷ sản phục vụ nuôi tôm.

Nông dân sử dụng thuốc thú y thuỷ sản phục vụ nuôi tôm.

Từ thực trạng của chuỗi giá trị ngành tôm cho thấy, rất cần cuộc cách mạng trong tái cơ cấu mô hình tăng trưởng cho ngành tôm, khi ngành này quyết định đến tăng trưởng kinh tế của nhiều tỉnh ven biển khu vực ÐBSCL. Qua đó, góp phần giảm áp lực về thị trường tiêu thụ lớn khi bị biến động, tăng khả năng cạnh tranh đối với các nước cùng mặt hàng cũng như cơ cấu lại ngành hàng, tăng tỷ trọng của con tôm chế biến sâu, mang lại nhiều giá trị gia tăng.

Muốn giải bài toán giá thành, giúp nông dân, DN giảm chi phí, tăng lợi nhuận và chủ động tạo ra năng lực cạnh tranh thì cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của các tỉnh trọng điểm về nuôi tôm, xét về mặt chiến lược, rất cần những chính sách quản lý vĩ mô, sự vào cuộc quyết liệt của Chính phủ cùng các bộ, ngành Trung ương, chứ không thể dừng ở cấp vùng, khu vực hay các tỉnh, thành phố có thế mạnh về xuất khẩu. Ðồng thời, cần tranh thủ, phát huy và tận dụng các hiệp định thương mại, cam kết hợp tác, xúc tiến tiêu thụ hàng hoá sẽ là “cánh cửa” rộng mở hơn cho hàng hoá của Việt Nam trong điều kiện diễn biến bất lợi về thuế quan và các rào cản về kỹ thuật, chất lượng do các nước nhập khẩu đặt ra./.

 

Lư Dũng - Hoàng Lam

 

Bảo vệ nguồn lợi cá đồng tự nhiên mùa sinh sản

Mùa mưa đến là lúc các loài cá đồng bước vào kỳ sinh sản. Người dân tại các vùng ngọt hoá ở Cà Mau đang tích cực bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản quý giá này.

Hợp tác để cùng phát triển

Không ngừng kết nối quan hệ để mở rộng thị trường, những năm qua, tỉnh Cà Mau tăng cường hợp tác với các địa phương trong cả nước, trọng tâm với hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là với tỉnh kết nghĩa Ninh Bình.

Động lực tăng trưởng kinh tế biển

Với lợi thế 3 mặt giáp biển, nguồn tài nguyên phong phú, cùng vị trí chiến lược ở địa đầu cực Nam đất nước, Cà Mau đang từng bước khẳng định vai trò trung tâm kinh tế biển quan trọng của vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước. Từ thuỷ sản, du lịch biển đến năng lượng tái tạo và logistics, kinh tế biển không chỉ đóng góp lớn cho tăng trưởng hiện tại mà còn tạo động lực tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.

Phiên livestream OCOP ngày 11/6/2026

Tiến tới kinh tế lâm nghiệp đa giá trị

Bảo đảm hài hoà giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, đặc biệt là chuyển từ tư duy “lâm nghiệp bảo vệ” sang “kinh tế lâm nghiệp đa giá trị” là mục tiêu trọng tâm trong phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững của Cà Mau thời gian tới. Theo đó, tỉnh hướng đến nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất lâm nghiệp, tạo việc làm, ổn định sinh kế, nâng cao đời sống người dân vùng rừng và ven biển, đồng thời tăng cường quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao khả năng hấp thụ carbon, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Cà Mau định hướng hình thành ngành công nghiệp nuôi biển hiện đại

Với vị trí địa lý đặc biệt, sở hữu hệ sinh thái phong phú, Cà Mau xác định phát triển nuôi biển là ngành kinh tế mới mang tính đột phá. Đây là bước đi chiến lược nhằm gia tăng giá trị, không chỉ mở hướng chuyển dịch sinh kế bền vững cho ngư dân, bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, mà còn đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh.

Dòng vốn ngân hàng tiếp sức tăng trưởng kinh tế

Với vai trò là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế, ngành ngân hàng đang tích cực đồng hành cùng tỉnh Cà Mau trong khai thác tiềm năng, lợi thế và thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới. Việc triển khai kịp thời các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Khu vực 15 góp phần giữ ổn định mặt bằng lãi suất, bảo đảm nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất - kinh doanh (SX-KD), tạo điều kiện cho doanh nghiệp (DN) và người dân mở rộng đầu tư, phát triển các lĩnh vực kinh tế trọng điểm.

Trang bị kỹ năng số: Mở rộng cơ hội phát triển cho phụ nữ

Những năm gần đây, chuyển đổi số đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội. Để không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình này, tại Cà Mau, các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) cũng tích cực hưởng ứng phong trào bằng nhiều hoạt động thiết thực, giúp hội viên, phụ nữ tiếp cận công nghệ, mở rộng cơ hội học tập và phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Khuyến công - “Đòn bẩy” thúc đẩy công nghiệp nông thôn

Thời gian qua, hoạt động khuyến công trên địa bàn tỉnh Cà Mau tiếp tục khẳng định vai trò “đòn bẩy” quan trọng trong phát triển công nghiệp nông thôn. Thông qua việc hỗ trợ đổi mới công nghệ, ứng dụng máy móc hiện đại, phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu và nâng cao năng lực quản lý cho các cơ sở sản xuất, chương trình khuyến công góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số” năm 2026

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 148/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2026.