Thứ sáu, 6-2-26 06:54:43
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Những điều cần hiểu thêm về tôm càng xanh

Báo Cà Mau Vài năm gần đây, mô hình nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng lúa khá thành công. Nông dân có thu nhập thêm hàng chục triệu đồng/ha, đã thôi thúc nông dân nhiều nơi trong tỉnh muốn mở rộng diện tích nuôi đối tượng dễ tính và nhiều hấp dẫn này.

Vài năm gần đây, mô hình nuôi tôm càng xanh trên chân ruộng lúa khá thành công. Nông dân có thu nhập thêm hàng chục triệu đồng/ha, đã thôi thúc nông dân nhiều nơi trong tỉnh muốn mở rộng diện tích nuôi đối tượng dễ tính và nhiều hấp dẫn này. Ðặc biệt, gần đây có đối tượng tôm càng xanh toàn đực được nuôi thử nghiệm thành công ở 11 hộ dân tại xã Thạnh Phú, huyện Cái Nước, càng làm cho bà con thêm tin tưởng. Tuy nhiên, do thiếu thông tin nên nhiều người vẫn còn rất mơ hồ, chưa biết rõ về đời sống của tôm càng xanh, từ đó việc chăm sóc còn hạn chế nên năng suất chưa cao.

Theo các tài liệu, trong tự nhiên, vòng đời của tôm càng xanh có 4 giai đoạn rõ ràng là trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành. Tôm trưởng thành sống ở vùng nước ngọt, thành thục và giao vĩ trong nước ngọt, nhưng sau đó chúng di cư ra vùng nước lợ đẻ (có độ mặn 6-18%o) và ấu trùng nở ra sống phù du trong nước lợ. Khi hoàn thành 11 lần lột xác để thành tôm con thì tôm di chuyển dần vào trong vùng nước ngọt.

Ở ÐBSCL có 2 mùa tôm sinh sản chính là tháng 4-6 và tháng 8-10. Tôm cái thành thục lần đầu ở khoảng 3-3,5 tháng (đạt khoảng 40 g, hay 140-150 cm chiều dài) kể từ hậu ấu trùng 10-15 ngày tuổi (PL10-15). Kích cỡ tôm nhỏ nhất đạt thành thục được ghi nhận là khoảng 10-13 cm và chỉ đạt 7,5 g. Tuy nhiên, tuổi thành thục và kích cỡ thành thục của tôm còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như môi trường, thức ăn và tôm cái khi thành thục thì mang trứng nên rất chậm lớn.

Thu hoạch tôm càng xanh của bà con nông dân huyện Thới Bình.     Ảnh: HOÀNG DIỆU

Về giới tính, tôm đực có kích cỡ lớn hơn tôm cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp hơn. Tôm cái thường có phần đầu ngực nhỏ và đôi càng thon, có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và dài tạo thành khoang bụng rộng làm buồng ấp trứng.

Tôm càng xanh xác định thức ăn bằng mùi và màu sắc, tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác (râu). Ðây là loài ăn tạp nghiêng về động vật, thức ăn tự nhiên của chúng là các loại nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ và cát mịn. Khi tìm được thức ăn, chúng dùng chân ngực thứ nhất kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng.

Tôm thường bò trên mặt đáy ao bắt mồi nhiều vào chiều tối và sáng sớm, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng. Trong thời gian ấp trứng, tôm cái có thể nhịn ăn vài ba ngày. Tôm càng xanh có một đặc tính loài đáng lưu ý là nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác, nên khi nuôi tôm thương phẩm phải đề phòng hiện tượng này để có giải pháp thích hợp hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau.

Tôm càng xanh trưởng thành thường ăn tầng đáy, tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác. Chúng dùng râu quét ngang, dọc phía trước hướng di chuyển. Trong quá trình tìm thức ăn, tôm có tính tranh giành cao, cá thể nhỏ thường tránh xa đàn hay khi tìm được một miếng thức ăn thì di chuyển đi nơi khác, trong khi đó con lớn vẫn chiếm chỗ và đánh đuổi tôm nhỏ. 

Về lột xác, giống như các loài giáp xác khác, để sinh trưởng, tôm càng xanh lột vỏ theo chu kỳ. Quá trình này được gọi là sự lột xác và tiếp theo sau mỗi lần lột xác đó là sự gia tăng đột ngột về kích thước và trọng lượng.

Tốc độ sinh trưởng của tôm đực và cái gần như tương đương nhau, cho tới khi chúng đạt kích cỡ 35-50 g, sau đó khác nhau rõ theo giới tính. Tôm đực sinh trưởng nhanh hơn tôm cái và đạt trọng lượng có thể gấp đôi tôm cái trong cùng một thời gian nuôi, nên có hiện tượng thường thấy trong nuôi tôm càng xanh là sự phân đàn khá rõ, kể cả trong cùng một nhóm giới tính. Ðây là ưu điểm của tôm càng xanh toàn đực.

Tôm càng xanh là loài thích nghi với biên độ nhiệt rộng, từ 18-34oC. Nhiệt độ tốt nhất từ 26-31oC; cần ánh sáng vừa phải, cường độ thích hợp nhất là 400 lux, ánh sáng cao sẽ ức chế hoạt động của tôm. Do vậy, ban ngày tôm xuống đáy thuỷ vực trú ẩn, ban đêm hoạt động tìm mồi tích cực. Mức pH thích hợp nhất là 6.5-8.5, pH dưới 5 tôm hoạt động yếu và chết sau 6 giờ. Khi gặp môi trường có pH thấp, tôm sẽ nổi đầu, dạt vào bờ, mang đổi màu, mang và các phụ bộ bị lở loét, tôm bơi lội chậm chạp và chết sau đó. Môi trường sống phải có oxy hoà tan > 3 mg/l, dưới mức này tôm hoạt động yếu, tập trung ven bờ, nổi đầu và chết sau vài giờ. Tôm càng xanh chỉ thích hợp ở nồng độ muối từ 0-16%o, tôm trưởng thành sinh trưởng tốt ở vùng cửa sông ven biển./.

Nguyễn Văn Thước

Phủ xanh bờ bao vuông tôm, thu quả ngọt

Giữa vùng đất mặn quanh năm gắn với sự sinh trưởng của con tôm, con cua, người dân xã Tam Giang tận dụng những khoảng đất trống quanh nhà để trồng dưa hấu, không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn mở ra hướng sản xuất linh hoạt, hiệu quả. Những ruộng dưa xanh mướt đang hứa hẹn một vụ mùa bội thu khi Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề.

“Vị ngọt” tôm - lúa hữu cơ

Khi tiết trời se lạnh, những cánh đồng lúa vừa gặt xong nhường chỗ cho con nước mặn tràn về, cũng là lúc tôm bắt đầu lớn lên trong lớp phù sa mặn - ngọt giao hoà. Ở Cà Mau, vòng quay mùa vụ không chỉ tạo nên nhịp sống đặc trưng mà còn hình thành mô hình sản xuất bền vững đang hoà nhịp cùng xu thế phát triển xanh của cả nước: tôm - lúa hữu cơ.

Vĩnh Lộc: Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại

Đó là chỉ đạo của đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, đối với định hướng phát triển nông nghiệp của xã Vĩnh Lộc. Là xã thuần nông, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến thất thường, một bộ phận nông dân còn giữ tư duy sản xuất cũ và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Xuân về trên những cánh đồng

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón Tết ở Xã Nguyễn Phích rộn ràng, phấn khởi hơn mọi năm. Trên những cánh đồng lúa - tôm trải dài, niềm vui hiện rõ trên gương mặt người dân khi năm nay vừa trúng tôm càng xanh, vừa trúng lúa. Sau một năm cần mẫn bám đất, bám rừng, bà con có thêm điều kiện đón một cái Tết đủ đầy, ấm áp.

Ðặc sản OCOP vào vụ Tết

Những ngày giáp tết Nguyên đán, tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP bước vào cao điểm nhằm kịp cung ứng hàng hoá cho thị trường Tết. Bên cạnh tăng sản lượng, các cơ sở OCOP còn chú trọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu, từng bước đưa nông sản địa phương khẳng định vị thế trên thị trường.

Làng nghề ép chuối khô vào mùa Tết

Những ngày cận Tết tại xã Khánh Hưng, không khí lao động tại các hộ làm nghề ép chuối khô tất bật hơn thường ngày để kịp cung ứng cho thị trường Tết Bính Ngọ 2026. Thương lái bắt đầu về tận nơi thu mua, vận chuyển chuối ép khô lên các tỉnh vùng trên tiêu thụ.

Ðặc sản khô Tết lên sàn

Những ngày này, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh trong tỉnh tất bật vào vụ sản xuất các mặt hàng khô. Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, người dân mạnh dạn tận dụng công nghệ, đưa đặc sản lên sàn thương mại điện tử, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ra mắt phần mềm Nông nghiệp

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị công bố chính thức Phần mềm Nông nghiệp Cà Mau và Cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh. Dự hội nghị có lãnh đạo sở, các đơn vị trực thuộc và đại diện lãnh đạo các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Ðòn bẩy nâng tầm đặc sản Cà Mau

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản địa phương, bảo hộ sở hữu trí tuệ đang trở thành “chìa khoá” quan trọng, giúp các đặc sản Cà Mau khẳng định uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng, gìn giữ và phát huy tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc trưng không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.

Thay đổi nhỏ, giá trị lớn

Những thay đổi nhỏ trong canh tác, từ việc điều chỉnh quy trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến cách thức tổ chức sản xuất... đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân, với thu nhập tăng thêm từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi năm.