Thứ bảy, 7-2-26 02:50:51
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Vùng Bắc Quốc lộ 1A: Tiềm năng đang được đánh thức

Báo Cà Mau

Bài 4: Khó khăn, thách thức ở vùng Bắc Quốc lộ 1A

Bài 3: Những mô hình sản xuất tiêu biểu vùng Bắc Quốc lộ 1A

Bài 2: Phát huy thế mạnh công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

>>Bài 1: Trù phú một nền nông nghiệp

Nếu như tiềm năng, lợi thế và sự đa dạng cây, con, đa dạng mô hình sản xuất ở vùng Bắc QL1A khó có nơi nào sánh được, thì cũng chính nơi đây đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Nông nghiệp phát triển ở trình độ thấp, lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên; năng suất, chất lượng và đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp bấp bênh; năng lực ứng phó biến đổi khí hậu còn yếu là một điển hình.

NƯỚC CHO SẢN XUẤT: KHÓ KHĂN THƯỜNG TRỰC

Nếu như xếp hạng cho những khó khăn, thách thức ở vùng Bắc QL1A hiện nay thì nguồn nước phục vụ sản xuất được xếp vào khó khăn thường trực. Do Bạc Liêu là tỉnh cuối nguồn nước ngọt của khu vực ĐBSCL thì vùng Bắc là nơi lãnh đủ hậu quả của sự thiếu hụt nước ngọt. Đó là chưa tính những bất lợi khách quan về khí hậu, thời tiết, thủy văn... Các nhà khoa học cho rằng, trong xu thế của biến đổi khí hậu, ở vùng Bắc của tỉnh, thời gian ngọt trên các dòng sông ngày càng ngắn đi và thời gian mặn ngày càng dài ra. Nếu như không có giải pháp kịp thời và hiệu quả, sản xuất nông nghiệp ở vùng này sẽ gặp nhiều khó khăn. Điển hình trong năm 2013, nguồn nước ngọt từ sông Hậu chảy về Bạc Liêu rất ít, nên 55.000ha lúa đông xuân của tỉnh dự báo bị thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn diễn ra gay gắt nhất từ trước tới nay (kể từ tháng 2 - 5/2013).

Lễ khởi công xây dựng nhà máy chế biến gạo xuất khẩu tại huyện Hồng Dân (do Công ty Cổ phần bảo vệ thực vật An Giang đầu tư). Ảnh: T.Đ

Hệ thống công trình thủy lợi (cống, đập, âu thuyền…) yếu kém, chậm được đầu tư xây dựng mới nên vấn đề điều tiết nguồn nước đáp ứng cho sự tồn tại của cả tôm và lúa không hề dễ dàng. Là khu vực chịu tác động tới 2 chế độ thủy triều (biển Đông và biển Tây) nhưng chỉ có cống ngăn mặn từ phía biển Đông, trong khi triều cường biển Tây (nối liền với tỉnh Kiên Giang) bỏ ngỏ hoàn toàn. Với thực trạng trên, vấn đề điều tiết nguồn nước cho người trồng lúa và người nuôi tôm hiếm khi đạt được mong muốn. Nếu đủ nước mặn cho nuôi tôm thì thiếu nước ngọt cho sản xuất lúa và ngược lại. Tranh chấp mặn - ngọt cứ thế diễn ra quanh năm và thậm chí đến mức gay gắt, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của nhiều tỉnh lân cận như Sóc Trăng, Cà Mau và Hậu Giang.

Đã có rất nhiều hội thảo, hội nghị cấp tỉnh, cấp vùng và cấp bộ liên tục diễn ra bàn về vấn đề thủy lợi - nguồn nước phục vụ sản xuất vùng Bắc với sự tham dự của nhiều nhà khoa học đầu ngành. Ở đó, rất nhiều giải pháp (công trình và phi công trình) đã được đưa ra. Thế nhưng, cái khó của vùng Bắc vẫn còn nguyên vẹn. Bởi vì tất cả giải pháp công trình lệ thuộc vào vốn Trung ương, hầu hết công trình kinh phí đầu tư rất lớn, mang lại lợi ích liên tỉnh và lợi ích cho cả vùng ĐBSCL.

TRÌNH ĐỘ THẤP, CHẤT LƯỢNG KÉM

Dưới góc nhìn của các chuyên gia, nông nghiệp vùng Bắc QL1A của Bạc Liêu là nền nông nghiệp phát triển ở trình độ thấp, dễ bị tổn thương trước tác động của ngoại cảnh.

Là một vùng kinh tế có tới 91% quỹ đất dùng vào nông nghiệp, nhưng hoạt động nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất còn rất hạn chế. Là “vựa” lúa của tỉnh, là “địa chỉ xanh” của lúa gạo thương hiệu và là “vương quốc” của các loài động vật hoang dã… nhưng vùng này không có một tiến sĩ nông nghiệp đứng chân, thạc sĩ nông nghiệp hoạt động ở khu vực này cũng hiếm. Đặc biệt là thiếu vắng cả một đội ngũ kỹ sư giỏi. Thêm vào đó, trình độ dân trí của nông dân còn thấp chính là nguyên nhân của sự vắng mặt mô hình nông nghiệp công nghệ cao.

Nhiều người cho rằng, thành quả của nền nông nghiệp vùng Bắc chứa đựng một lượng chất xám rất lớn của các nhà khoa học ngoài tỉnh, và chắc chắn sẽ còn lệ thuộc họ lâu hơn khi đội ngũ cán bộ khoa học ở vùng này gần như không có. Đặc biệt, trong tiến trình ứng phó cũng như tạo ra giống cây, con mới (nhất là giống lúa chịu mặn cao) thích nghi với biến đổi khí hậu, vùng Bắc lệ thuộc hoàn toàn vào các nhà khoa học ngoài tỉnh. Trong khi đó, kinh phí để từng địa phương mua được “sản phẩm” của họ lại rất có hạn.

Xét về tập quán sản xuất, tình trạng sản xuất tự phát, manh mún, giá thành sản phẩm cao, hiệu quả kinh tế thấp, thị trường tiêu thụ không ổn định (ít có mặt hàng xuất khẩu)… chính là nguyên nhân khiến cho hàng vạn nông dân ở đây vẫn nghèo. Đó còn là lý do cho thấy thu nhập bình quân đầu người ở vùng Bắc thấp hơn 20% so với thu nhập bình quân đầu người toàn tỉnh (29,79 triệu đồng/năm).

KHÓ THU HÚT ĐẦU TƯ

Là vùng sâu, vùng xa của khu vực ĐBSCL và TP. HCM, lại là địa bàn thuần nông nên vùng Bắc (nhất là các huyện Hồng Dân, Phước Long, Vĩnh Lợi) được đánh giá là vùng khó khăn nhất tỉnh trong xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch. Địa bàn ở xa trung tâm tiêu thụ, chi phí vận chuyển, đi lại tăng cao, khó kiếm công nhân lành nghề… khiến nhiều nhà đầu tư chùn bước. Mặt khác, hệ thống hạ tầng về giao thông, thủy lợi, điện, công nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu kém, chưa được đầu tư đồng bộ. Vì vậy, thời gian qua, khu vực này rất khó thu hút các dự án đầu tư lớn để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế vùng.

Tất cả yếu tố chủ quan và khách quan ấy cho thấy, mỗi địa phương cần có chính sách ưu đãi đặc thù mời gọi các nhà đầu tư bên cạnh chính sách ưu đãi chung do Nhà nước quy định.

Nhận thấy những khó khăn trên, do vậy, trong dự thảo Nghị quyết phát triển vùng Bắc QL1A, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định lộ trình nâng cấp và phát triển hệ thống giao thông, quy hoạch thêm một số cụm công nghiệp đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật, phát triển hệ thống chợ đầu mối để làm đô thị vệ tinh thúc đẩy kinh tế nông nghiệp vùng Bắc phát triển.

HỮU DUYÊN

Bài cuối: Những giải pháp để vùng Bắc QL1A phát triển

Phủ xanh bờ bao vuông tôm, thu quả ngọt

Giữa vùng đất mặn quanh năm gắn với sự sinh trưởng của con tôm, con cua, người dân xã Tam Giang tận dụng những khoảng đất trống quanh nhà để trồng dưa hấu, không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn mở ra hướng sản xuất linh hoạt, hiệu quả. Những ruộng dưa xanh mướt đang hứa hẹn một vụ mùa bội thu khi Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề.

“Vị ngọt” tôm - lúa hữu cơ

Khi tiết trời se lạnh, những cánh đồng lúa vừa gặt xong nhường chỗ cho con nước mặn tràn về, cũng là lúc tôm bắt đầu lớn lên trong lớp phù sa mặn - ngọt giao hoà. Ở Cà Mau, vòng quay mùa vụ không chỉ tạo nên nhịp sống đặc trưng mà còn hình thành mô hình sản xuất bền vững đang hoà nhịp cùng xu thế phát triển xanh của cả nước: tôm - lúa hữu cơ.

Vĩnh Lộc: Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại

Đó là chỉ đạo của đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, đối với định hướng phát triển nông nghiệp của xã Vĩnh Lộc. Là xã thuần nông, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến thất thường, một bộ phận nông dân còn giữ tư duy sản xuất cũ và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Xuân về trên những cánh đồng

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón Tết ở Xã Nguyễn Phích rộn ràng, phấn khởi hơn mọi năm. Trên những cánh đồng lúa - tôm trải dài, niềm vui hiện rõ trên gương mặt người dân khi năm nay vừa trúng tôm càng xanh, vừa trúng lúa. Sau một năm cần mẫn bám đất, bám rừng, bà con có thêm điều kiện đón một cái Tết đủ đầy, ấm áp.

Ðặc sản OCOP vào vụ Tết

Những ngày giáp tết Nguyên đán, tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP bước vào cao điểm nhằm kịp cung ứng hàng hoá cho thị trường Tết. Bên cạnh tăng sản lượng, các cơ sở OCOP còn chú trọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu, từng bước đưa nông sản địa phương khẳng định vị thế trên thị trường.

Làng nghề ép chuối khô vào mùa Tết

Những ngày cận Tết tại xã Khánh Hưng, không khí lao động tại các hộ làm nghề ép chuối khô tất bật hơn thường ngày để kịp cung ứng cho thị trường Tết Bính Ngọ 2026. Thương lái bắt đầu về tận nơi thu mua, vận chuyển chuối ép khô lên các tỉnh vùng trên tiêu thụ.

Ðặc sản khô Tết lên sàn

Những ngày này, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh trong tỉnh tất bật vào vụ sản xuất các mặt hàng khô. Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, người dân mạnh dạn tận dụng công nghệ, đưa đặc sản lên sàn thương mại điện tử, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ra mắt phần mềm Nông nghiệp

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị công bố chính thức Phần mềm Nông nghiệp Cà Mau và Cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh. Dự hội nghị có lãnh đạo sở, các đơn vị trực thuộc và đại diện lãnh đạo các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Ðòn bẩy nâng tầm đặc sản Cà Mau

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản địa phương, bảo hộ sở hữu trí tuệ đang trở thành “chìa khoá” quan trọng, giúp các đặc sản Cà Mau khẳng định uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng, gìn giữ và phát huy tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc trưng không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.

Thay đổi nhỏ, giá trị lớn

Những thay đổi nhỏ trong canh tác, từ việc điều chỉnh quy trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến cách thức tổ chức sản xuất... đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân, với thu nhập tăng thêm từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi năm.