Thứ tư, 4-2-26 06:27:01
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Xử lý rác thải trong nuôi tôm

Báo Cà Mau (CMO) Những năm gần đây, nghề nuôi trồng và chế biến thuỷ hải sản phát triển mạnh, kim ngạch xuất khẩu hàng năm mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho nền kinh tế địa phương và nguồn thu nhập lớn cho người dân. Tuy nhiên, bên cạnh sự phấn khởi đó, vấn đề rác thải nhựa trong ngành nuôi trồng và chế biến thuỷ sản đang là điều đáng quan tâm. Hiện nay, rác thải nhựa đang trở thành vấn nạn, ngày càng ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường, tác hại đến các sinh vật biển và đại dương.

Ông Châu Công Bằng, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), cho biết, toàn tỉnh có khoảng 280 ngàn héc-ta nuôi tôm, trong đó có trên 6.266 ha với 7.715 hộ nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, phần lớn diện tích này đều dùng bạt trải đáy ao. Ngoài ra, chai lọ thuốc, hoá chất, vi sinh; lưới che ao; bao bì thức ăn; túi đựng con giống; cánh quạt và hệ thống sục khí... đều là những loại rác thải nhựa khó phân huỷ trong môi trường tự nhiên, đã và đang tác động tiêu cực đến môi trường và sức khoẻ con người nếu như không được thu gom, xử lý và tái chế.

“Hiện nay tuy chưa thống kê lượng rác thải nhựa trong nuôi tôm thải ra môi trường tự nhiên hàng năm. Nhưng chắc chắn con số này không nhỏ, bởi hiện nay mô hình nuôi tôm thâm canh, siêu thâm canh đang phát triển mạnh tại nhiều nơi, đồng nghĩa rác thải nhựa ngày càng gia tăng trong thời gian tới”, ông Bằng lo lắng.

Toàn tỉnh hiện có trên 6.266 ha nuôi tôm thâm canh và siêu thâm canh, theo đó bạt trải đáy ao và nguồn nhựa sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản rất lớn, nguy cơ gây ảnh hưởng môi trường.

Theo báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khối lượng rác thải nhựa từ Việt Nam ra biển dao động từ 0,28-0,373 triệu tấn/năm, trong đó có lượng lớn chất thải nhựa trong nuôi trồng thuỷ sản thải ra. Tuy nhiên, việc thu gom, tái chế loại chất thải này đang là vấn đề nan giải.

Theo nhiều đề tài nghiên cứu của các chuyên gia, ước tính có từ 70-80% rác thải nhựa trên biển có nguồn gốc từ đất liền thải ra; phần còn lại là rác nhựa thải trực tiếp ra biển, chủ yếu từ các hoạt động đánh bắt hải sản như: ngư cụ bị hư hỏng bỏ lại biển, vật dụng nuôi trồng thuỷ sản không còn sử dụng... gây ô nhiễm trên đại dương, ảnh hưởng lớn đến các sinh vật biển.

Tại hội nghị tham vấn thúc đẩy sáng kiến thu gom, tái chế rác thải nhựa trong ngành hàng tôm vì sự phát triển bền vững của ngành thuỷ sản tại ÐBSCL, vừa tổ chức tại Cà Mau, bà Bùi Thị Thu Hiền, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), cho biết, ngành hàng tôm là 1 trong 4 trụ cột mà Liên minh Tôm sạch và Bền vững Việt Nam từng bước hướng tới giải quyết các vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trên thực tế, vấn đề về chất thải nhựa nói chung và tình trạng phát thải trong chuỗi ngành hàng tôm Việt Nam nói riêng đang trở thành điểm nóng, mối nguy hại đối với môi trường, đồng thời cũng là thách thức với việc đáp ứng các rào cản kỹ thuật từ các thị trường nhập khẩu khó tính như châu Âu.

“Giải quyết vấn đề rác thải nhựa đại dương không chỉ liên quan đến ngành thuỷ sản mà cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương. Ðặc biệt, công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức về rác thải nhựa của cộng đồng đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết, để thực hiện có hiệu quả các sáng kiến và cam kết của Việt Nam với quốc tế về việc giải quyết các vấn đề rác thải nhựa mà trọng tâm là rác thải nhựa đại dương, bảo đảm ngăn ngừa việc xả thải nhựa từ các nguồn thải trên đất liền và các hoạt động trên biển, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành quốc gia tiên phong trong khu vực về giảm thiểu rác thải nhựa đại dương”, bà Hiền nói.

Trước thực trạng rác thải nhựa đối với hoạt động nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, ngày 5/2/2021, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt Kế hoạch hành động quản lý rác thải nhựa đại dương ngành thuỷ sản, giai đoạn 2020-2030. Mục tiêu của kế hoạch hành động là hướng đến giảm thiểu rác thải nhựa trong sản xuất ngành thuỷ sản, từng bước quản lý rác thải nhựa đại dương theo tiếp cận từ đầu nguồn tới đại dương, kinh tế tuần hoàn và phát triển kinh tế xanh; nâng cao ý thức, trách nhiệm xã hội của cộng đồng nông - ngư dân, các doanh nghiệp về rác thải nhựa, góp phần thực hiện thành công mục tiêu của Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn.

Các chuyên gia khuyến cáo, rác thải nhựa sẽ lắng lại dưới đáy biển, những vụn nhựa khi cá ăn vào không chỉ gây nguy hiểm cho cá, tôm mà còn gây mất an toàn thực phẩm cho con người khi ăn những hải sản này. Do vậy, rác thải nhựa từ ngành thuỷ sản cần phải được thu gom và xem như một dạng tài nguyên cần tái chế, tái sử dụng mang tính sản xuất tuần hoàn theo hướng bền vững. Khi làm được vấn đề này, một phần mang lại thu nhập cho người dân và lợi nhuận cho doanh nghiệp, một phần giảm thải ô nhiễm nhựa trên đại dương, giảm tác hại đến các sinh vật biển./.

 

Trung Ðỉnh

 

Phủ xanh bờ bao vuông tôm, thu quả ngọt

Giữa vùng đất mặn quanh năm gắn với sự sinh trưởng của con tôm, con cua, người dân xã Tam Giang tận dụng những khoảng đất trống quanh nhà để trồng dưa hấu, không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn mở ra hướng sản xuất linh hoạt, hiệu quả. Những ruộng dưa xanh mướt đang hứa hẹn một vụ mùa bội thu khi Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề.

“Vị ngọt” tôm - lúa hữu cơ

Khi tiết trời se lạnh, những cánh đồng lúa vừa gặt xong nhường chỗ cho con nước mặn tràn về, cũng là lúc tôm bắt đầu lớn lên trong lớp phù sa mặn - ngọt giao hoà. Ở Cà Mau, vòng quay mùa vụ không chỉ tạo nên nhịp sống đặc trưng mà còn hình thành mô hình sản xuất bền vững đang hoà nhịp cùng xu thế phát triển xanh của cả nước: tôm - lúa hữu cơ.

Vĩnh Lộc: Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại

Đó là chỉ đạo của đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, đối với định hướng phát triển nông nghiệp của xã Vĩnh Lộc. Là xã thuần nông, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến thất thường, một bộ phận nông dân còn giữ tư duy sản xuất cũ và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Xuân về trên những cánh đồng

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón Tết ở Xã Nguyễn Phích rộn ràng, phấn khởi hơn mọi năm. Trên những cánh đồng lúa - tôm trải dài, niềm vui hiện rõ trên gương mặt người dân khi năm nay vừa trúng tôm càng xanh, vừa trúng lúa. Sau một năm cần mẫn bám đất, bám rừng, bà con có thêm điều kiện đón một cái Tết đủ đầy, ấm áp.

Ðặc sản OCOP vào vụ Tết

Những ngày giáp tết Nguyên đán, tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP bước vào cao điểm nhằm kịp cung ứng hàng hoá cho thị trường Tết. Bên cạnh tăng sản lượng, các cơ sở OCOP còn chú trọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu, từng bước đưa nông sản địa phương khẳng định vị thế trên thị trường.

Làng nghề ép chuối khô vào mùa Tết

Những ngày cận Tết tại xã Khánh Hưng, không khí lao động tại các hộ làm nghề ép chuối khô tất bật hơn thường ngày để kịp cung ứng cho thị trường Tết Bính Ngọ 2026. Thương lái bắt đầu về tận nơi thu mua, vận chuyển chuối ép khô lên các tỉnh vùng trên tiêu thụ.

Ðặc sản khô Tết lên sàn

Những ngày này, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh trong tỉnh tất bật vào vụ sản xuất các mặt hàng khô. Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, người dân mạnh dạn tận dụng công nghệ, đưa đặc sản lên sàn thương mại điện tử, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ra mắt phần mềm Nông nghiệp

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị công bố chính thức Phần mềm Nông nghiệp Cà Mau và Cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh. Dự hội nghị có lãnh đạo sở, các đơn vị trực thuộc và đại diện lãnh đạo các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Ðòn bẩy nâng tầm đặc sản Cà Mau

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản địa phương, bảo hộ sở hữu trí tuệ đang trở thành “chìa khoá” quan trọng, giúp các đặc sản Cà Mau khẳng định uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng, gìn giữ và phát huy tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc trưng không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.

Thay đổi nhỏ, giá trị lớn

Những thay đổi nhỏ trong canh tác, từ việc điều chỉnh quy trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến cách thức tổ chức sản xuất... đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân, với thu nhập tăng thêm từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi năm.