Thứ sáu, 19-6-26 03:32:56
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

“Thắng giặc nghèo” không khó - Bài 2: Linh hoạt với những mô hình hiệu quả

Báo Cà Mau Giai đoạn 2020-2025, Cà Mau có nhiều cách làm chủ động, linh hoạt trong thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững. Nhiều mô hình trồng trọt, chăn nuôi, chuyển đổi nghề hiệu quả, hàng loạt kế hoạch đào tạo lao động tại địa phương đã giúp người dân vượt khó vươn lên, mang tính thực tiễn cao.

Nỗ lực tự thân

Trong số hơn 2.290 mô hình được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh xây dựng và nhân rộng suốt 5 năm trở lại đây, có đến 120 mô hình về phát triển kinh tế, 58 mô hình về giảm nghèo, 10 mô hình về xây dựng tổ hợp tác mang tính khả thi cao. Bên cạnh dựa vào sự hỗ trợ từ Nhà nước và các ban, ngành, đoàn thể, nhiều hộ dân tự mày mò, sáng tạo để có những cách làm kinh tế linh hoạt, hợp thời, vượt lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên, thổ nhưỡng và đã thành công.

Ðiển hình như mô hình trồng bắp, dưa hấu, trồng chuối trái mùa tại huyện Ðầm Dơi. Chị Lê Thị Cẩm, ấp Thuận Lợi, xã Tân Ðức tận dụng bờ vuông để trồng bắp suốt 3 năm qua. Mỗi năm, chị Cẩm thu hoạch 4 đợt, bán được khoảng 40 triệu đồng, trừ hết chi phí chị lời 30 triệu đồng. Số tiền này đủ để chị trang trải sinh hoạt trong gia đình mà không cần tìm việc nơi xa.

Nhiều phụ nữ ở xã Khánh Lâm (huyện U Minh) học nghề đan len, làm giỏ... và tự tìm đầu ra cho sản phẩm để thoát nghèo.

Chăm chỉ học và ứng dụng kỹ thuật trồng trọt để tạo kinh tế riêng, chị Trương Nhã Linh, ấp Tân An, xã Tân Ðức đã thử nghiệm trồng dưa hấu trái vụ. Ban đầu chị chỉ trồng thử để dùng trong gia đình. Thấy trái sai, to và ruột đỏ, chị Linh nhân rộng và thử nghiệm với nhiều giống dưa hơn. Kết quả thu hoạch được 750 kg/3 đợt trồng dưa trong một năm. Trừ hết chi phí, chị Linh lời được 7 triệu đồng/lần thu hoạch.

Chị Trương Nhã Linh chia sẻ: “Tôi có ao nên trữ nước nhiều, mỗi lần tưới là bơm nước lên. Những đợt nắng lớn, tôi phải tưới 3-4 lần/ngày. Chị em ở đây trồng dưa mang lại thu nhập ổn định. Ấp Tân An có 4 hộ trồng dưa, chúng tôi học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Tôi bán tại chỗ chứ không bán cho lái buôn vì đầu ra ở địa phương rất ổn. Ngoài ra, tôi tận dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo... để quảng bá sản phẩm và thêm kênh bán hàng. Mọi người đặt nhiều nên tôi bán rất nhanh”.

Song song với các mô hình sản xuất trái mùa, một số chị em tự tạo cơ sở may gia công tại địa phương. Các cơ sở này không chỉ đào tạo nghề cho phụ nữ nhàn rỗi mà còn bao luôn đầu ra cho chị em, giảm gánh nặng thất nghiệp tại địa phương.

Chị Võ Tố Quyên, ấp Tân Hiệp Lợi B, xã Tân Ðức, huyện Ðầm Dơi, tự đi học nghề ở TP Hồ Chí Minh, tìm hiểu đầu ra cho sản phẩm và quay về quê nhà mở cơ sở may gia công khoảng 4 năm nay. Cơ sở của chị Quyên chủ yếu may đầm theo đơn đặt hàng, chị em nào liên hệ học nghề tại cơ sở đều được chị hỗ trợ. Trong thời gian đào tạo vẫn có lương (trả theo sản phẩm) và được bao ăn uống tại chỗ.

Chị Võ Tố Quyên cho biết: “Thợ làm việc tại đây hơn chục người, trả lương hằng tháng, trung bình 3-5 triệu đồng/người. Nhiều người may giỏi lương khoảng 6-7 triệu đồng. Cơ sở tôi thường xuyên tuyển thợ may vì có nguồn hàng nhiều. Chị em ai có nhu cầu thì tôi hỗ trợ hết lòng”.

Ở xã Khánh Lâm, huyện U Minh, vừa qua, Hội Liên hiệp Phụ nữ xã kết hợp với Trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau mở lớp đan len thủ công cho các chị thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Chị Trần Thu Hiền, Ấp 3, xã Khánh Lâm, chia sẻ: “Sản phẩm làm ra có giá trị nhưng ban đầu không có đầu mối thu mua. Chị em chúng tôi đã nghĩ ra cách đăng trên mạng xã hội với hình ảnh sinh động, quay clip thật rõ nét với những thành phẩm đẹp nhất, bắt mắt nhất... Dần dần khách hàng tự tìm đến mình, đặt hàng mình làm. Có những công ty nhỏ chuyên xuất khẩu mặt hàng túi, hoa... đan len cũng mua với số lượng lớn để xuất đi nước ngoài. Mỗi ngày chị em còn bán lẻ được khoảng 20 sản phẩm, trung bình mỗi sản phẩm có giá từ 150-300 ngàn đồng. Nhiều chị có nguồn khách hàng lớn, cần thêm người có tay nghề phụ việc đã chia sẻ kinh nghiệm đan len cho chị em khác cùng làm để có thêm thu nhập”.

Nhờ kiên trì, nỗ lực ứng dụng khoa học kỹ thuật để trồng trọt, chăn nuôi và tự thân vận động tìm đầu ra cho sản phẩm, đời sống các hộ nghèo, cận nghèo ở vùng nông thôn trong tỉnh cải thiện rõ rệt.

Đưa chủ trương vào đời sống, sản xuất

Thực hiện chủ trương giảm nghèo của tỉnh như: khuyến khích dân vùng mặn trồng rau màu, đẩy mạnh nuôi cá nước ngọt, khuyến khích chuyển đổi nghề... 10 năm nay, người dân canh tác trên đất ngập mặn đều đạt kết quả khả thi.

Ông Bùi Hùng Cường, Phó trưởng Ban Dân vận Huyện uỷ Ðầm Dơi, cho biết, gia đình ông có 19.000 m2 đất sản xuất tại Khóm 1, thị trấn Ðầm Dơi. Trong số đó, phần đất được lập vườn hệ ngọt rộng 3.000 m2, số còn lại được ông Cường dành nuôi tôm và thuỷ sản nước mặn.

Ông Cường chia sẻ kinh nghiệm: "Ở vùng toàn nước mặn như Ðầm Dơi, cái khó nhất trong giữ ngọt là khâu thiết kế ban đầu, ngăn sao cho mặn không xâm nhập vào vùng muốn giữ ngọt để trồng rau, nuôi cá. Khi giữ ngọt thành công, trồng loại cây gì cũng tốt, giúp chủ hộ có nông sản bán quanh năm. Như khu vườn nhà tôi, nguồn thu hiện gấp gần 2 lần so với vuông tôm dù diện tích chỉ chiếm khoảng 1/5 so với vuông tôm".

Nhờ thực hiện tốt khuyến nghị tăng gia sản xuất, qua phong trào tận dụng đất trống để trồng rau, nuôi cá nước ngọt, mà thu nhập của người dân Ðầm Dơi được cải thiện theo chiều hướng tích cực. Theo đánh giá của ông Lê Minh Hiền, Chủ tịch UBND huyện Ðầm Dơi: “So với thời điểm năm 2014, thu nhập bình quân đầu người đến cuối năm 2023 của huyện tăng từ 29 triệu đồng lên 58 triệu đồng; hộ nghèo từ hơn 3.300 hộ, giảm còn 961 hộ (2,2%), cận nghèo từ hơn 1.800 hộ, giảm còn 812 hộ (1,86%) theo chuẩn đa chiều giai đoạn 2021-2025”.

Nếu ở vùng đất ngập mặn, người dân hăng hái sản xuất bằng những mô hình trồng trọt, chăn nuôi thuỷ hải sản hiệu quả, thì với những địa phương ven biển, người dân cũng bắt đầu hưởng ứng lời kêu gọi chuyển đổi sang nhiều nghề khác nhau, vừa mang lại hiệu quả kinh tế, giúp thoát nghèo, có thể chung tay ngăn chặn khai thác huỷ diệt nguồn lợi từ biển.

Anh Nguyễn Văn Quýt, ấp Kinh Hòn, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, đã dần từ giã nghề đánh bắt cá chuyển sang nuôi cá vồ, cá lóc và trồng cây ăn trái.

Anh Nguyễn Văn Quýt, ấp Kinh Hòn, xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, chuyển đổi nghề từ đánh cá sang trồng cây ăn trái và dần ổn định cuộc sống.

Anh Quýt cho biết, nghề biển giờ khó sống vì thời tiết khắc nghiệt, biển động thường xuyên nên anh và gia đình quyết tìm nghề mới để ổn định cuộc sống. Sẵn phần đất của gia đình, anh cải tạo lập vườn và tìm hiểu kỹ thuật nuôi cá để có đồng ra đồng vô. Thông thường, sau 6 tháng nuôi, anh Quýt sẽ gọi mối lái đến mua. Trừ mọi chi phí, gia đình anh thu được khoảng 10 triệu đồng. Riêng vườn cây ăn trái, anh trồng ổi, cam, quýt... Cứ cách 3 tháng, anh thu hoạch được tầm 3-5 triệu đồng. Từ đó, gia đình anh Quýt đỡ áp lực kinh tế.

Anh Quýt chia sẻ: “Chính quyền địa phương cho tôi tham gia các lớp tập huấn để có thêm kiến thức về chăn nuôi, trồng trọt. Mấy năm nay, nuôi cá và trồng cây ăn trái thu nhập ổn định hơn nghề đi biển. Trước đi biển là chính, giờ đi biển chỉ là phụ”.

Xã Khánh Bình Tây hiện đẩy mạnh nhiều mô hình chuyển đổi nghề tạo dựng kinh tế cho người dân như: nhân rộng mô hình nuôi cá đồng 2 giai đoạn kết hợp trồng lúa; mô hình nuôi cá, nuôi vọp kết hợp trồng cây ăn trái...

Ông Nguyễn Cảnh Hạnh, Chủ tịch UBND xã Khánh Bình Tây, cho biết: “Những ngư dân hiện nay tại xã Khánh Bình Tây được sự hỗ trợ vốn để chuyển đổi nghề đều ăn nên làm ra và tạo dựng cuộc sống ổn định. Xã cũng có một số mô hình chuyển đổi ngành nghề như nuôi thuỷ sản xung quanh hòn Ðá Bạc. Nếu các mô hình này hiệu quả sẽ nhân rộng”.

Từ những mô hình thiết thực như trồng rau màu, cây ăn trái, nuôi thuỷ sản, chăn nuôi... cùng với triển khai hiệu quả chương trình, dự án hỗ trợ sinh kế lồng ghép với giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh..., đã góp phần vào thành quả giảm nghèo chung của tỉnh./.

 

Lam Khánh

Bài cuối: Nhìn từ thực tế

 

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.