Thứ ba, 3-2-26 16:42:09
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Bác sĩ Trần Duy Hưng: Một trí thức hết lòng vì đất nước

Báo Cà Mau Bác sĩ Trần Duy Hưng sinh ngày 16/1/1912, tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm; quê nội tại thôn Hoè Thị, xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, trong một gia đình trung lưu. Ông học cùng thời với các bác sĩ: Tôn Thất Tùng, Ðặng Văn Ngữ…

Bác sĩ Trần Duy Hưng sinh ngày 16/1/1912, tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm; quê nội tại thôn Hoè Thị, xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội, trong một gia đình trung lưu. Ông học cùng thời với các bác sĩ: Tôn Thất Tùng, Ðặng Văn Ngữ…

30 tuổi, được người em gái - bà Trần Thế Mỹ - trợ giúp, Bác sĩ Trần Duy Hưng  mở một bệnh viện ở phố Thợ Nhuộm, Hà Nội. Lúc bấy giờ, ông đã nổi tiếng là một bác sĩ đa khoa giỏi và càng nổi tiếng hơn vì đã chữa bệnh cho người nghèo không lấy tiền.

Trước ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945, bệnh viện của ông là cơ sở bí mật của cách mạng. Khi ấy, ông tham gia tích cực các phong trào xã hội và có uy tín lớn trong giới thanh niên, nhân sĩ, trí thức thời đó.

Bác sĩ Trần Duy Hưng (người đứng trên xe) vẫy chào Nhân dân trong ngày giải phóng thủ đô 10/10/1954.  Ảnh tư liệu

Khoảng một tuần sau ngày đọc Tuyên ngôn Ðộc Lập 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Ðình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm nhà riêng Bác sĩ Trần Duy Hưng và đề nghị ông làm Thị trưởng Hà Nội. Trước vinh dự và trọng trách lớn lao đó, ông xúc động cảm ơn Hồ Chủ tịch nhưng đề nghị Bác chọn người khác xứng đáng hơn với lý do mình chỉ biết khám, chữa bệnh, không quen làm lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh ân cần động viên: "Ðiều quan trọng là chú có lòng yêu nước, có các đoàn thể và đồng chí giúp đỡ, lo gì không hoàn thành nhiệm vụ".

Tháng 10/1945, ông gia nhập Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, Bác sĩ Trần Duy Hưng được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chánh Hà Nội, cùng với tập thể Thành uỷ, Uỷ ban Hành chánh tập hợp được các tầng lớp Nhân dân dưới ngọn cờ của chính quyền cách mạng tiến hành cuộc chiến chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm thời đó.

Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội, ông theo Chính phủ lên Chiến khu Việt Bắc, được cử làm Thứ trưởng Bộ Nội vụ (tháng 4/1947 đến 1954) và tháng 6/1954 làm Thứ trưởng Bộ Y tế.

Hoà bình được lập lại, ngày 10/10/1954, ông dẫn đầu đại quân tiến vào tiếp quản thủ đô, với tư cách là Phó Chủ tịch Quân chính Hà Nội. Sau đó, ông được Ðảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, một lần nữa, cử làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chánh (sau này là UBND) TP Hà Nội. Ông đảm nhiệm trọng trách này liên tục 23 năm cho đến khi về hưu vào năm 1977. Ông còn là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ khoá 1 đến khoá 6. Là một trí thức cách mạng, một người mẫu mực, đức độ, nhân ái, suốt đời sống vì mọi người, ông đã có nhiều cống hiến cho sự phồn vinh của thủ đô, đất nước và đã để lại nhiều dấu ấn khó quên.

Ông vinh dự và may mắn được nhiều năm làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông là người có tác phong gần gũi với dân, thương yêu dân và luôn được dân tin yêu.

Những ngày thủ đô mới giải phóng, công việc rất bộn bề, ông luôn sâu sát cơ sở từ các nhà máy, các công trường… đến các trường học, các đơn vị quân đội. Nhiều đêm, một mình ông đi kiểm tra các điểm canh đê, đề phòng nước lũ lên. Là người đi đầu trong các phong trào, ông đã có công dẫn dắt thành phố đạt năng suất lúa cao nhất miền Bắc.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông luôn luôn có mặt, trực tiếp động viên hàng ngàn con em Hà Nội lên đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Tháng 12/1972, máy bay B52 của đế quốc Mỹ đánh phá ác liệt Hà Nội. Nhiều trường học, bệnh viện, khu đông đúc dân cư bị bom Mỹ huỷ diệt. Ông xuống tận các khu phố bị bom Mỹ tàn phá như Khâm Thiên, An Dương, Bạch Mai ngay cả trong 12 ngày đêm của trận Ðiện Biên Phủ trên không lịch sử, thăm hỏi Nhân dân, tham gia dập lửa cùng các chiến sĩ tự vệ, các đội chữa cháy, băng bó người bị thương, chôn cất những người đã hy sinh. Trong những năm tháng đó, hình ảnh ông gắn liền với biết bao sự kiện của thủ đô.

Ngoài khối lượng công việc to lớn của người đứng đầu thủ đô, ông còn dành nhiều thời gian tiếp dân, trong giờ hành chánh tại công sở; những buổi tối, ngày nghỉ, ông tiếp dân bất cứ lúc nào ngay tại nhà riêng của mình, nghe từng vụ việc cụ thể và sau đó, giải quyết luôn cho dân.

Ông tự soạn thảo các bài diễn văn, các báo cáo, các thư từ, điện tín… mà không yêu cầu thư ký. Trong thời gian làm Chủ tịch UBND TP Hà Nội, có tầm nhìn xa trông rộng, ông ôm ấp ý tưởng biến sông Hồng trở thành một thực thể của Hà Nội ngàn năm văn hiến.

Ông có thói quen, cứ chiều 30 Tết, chuẩn bị một túi quà, đợi người công nhân quét rác cuối cùng đến làm nhiệm vụ thì tặng túi quà đó.

Một hôm, có bà cụ ở Sóc Sơn ra Hà Nội, đến vườn hoa cạnh hồ Hoàn Kiếm, không may bị rơi mất hành lý, tiền bạc. Khi bà cụ đang trình báo với công an thì Bác sĩ Trần Duy Hưng đi qua. Ông dừng xe, lắng nghe và biếu bà cụ ít tiền, rồi bảo anh công an lái xe đưa bà cụ đến bến xe khách lên đường về quê. Về đến nhà, bà cụ dặn con cháu: "Ông chủ tịch thành phố là người tốt, khi nào ông mất, các con phải thay mẹ đến thắp nén hương và lạy tạ vong linh ông".

Ngày 2/10/1988, ông qua đời trong niềm tiếc thương của Nhân dân và bạn bè quốc tế; người con trai của bà cụ nói trên nhớ lời mẹ dặn, ra Hà Nội, tay cầm nén hương, xin Ban Tổ chức Lễ tang vào viếng người quá cố.

Ngày 3/2/2005, ghi nhận công lao to lớn của ông đối với sự nghiệp cách mạng của Ðảng và dân tộc, Nhà nước ta đã truy tặng ông Huân chương Hồ Chí Minh.

Ðể tưởng nhớ một trí thức yêu nước có nhiều cống hiến cho thủ đô và đất nước, năm 1999, Hội đồng Nhân dân TP Hà Nội quyết định đặt tên ông cho một đường phố đẹp và hiện đại ở cửa ngõ phía Tây thủ đô./.

Nguyễn Xuyến tổng hợp

Thăm căn cứ xưa

Một sáng cuối năm 2025, tôi và anh Phạm Thạnh Trị - đồng đội từng công tác tại Văn phòng Tỉnh uỷ từ cuối năm 1960-1975, được anh Lê Minh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cà Mau, mời về thăm lại Di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước (ấp Xẻo Ðước, xã Phú Mỹ), nhắc nhớ ký ức những năm tháng sống và làm việc ở nơi này.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài cuối: Nối tiếp truyền thống, dấn thân kiến tạo

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Cà Mau không chỉ là mảnh đất của những chiến công hiển hách mà còn là nơi lưu dấu những giá trị sâu sắc về dân chủ và pháp quyền. Ở đó, dòng chảy lập hiến luôn được tiếp nối giữa các thế hệ.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 3: Phát huy dân chủ - Kiến tạo phát triển

80 năm đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội năm 1946, tinh thần “lấy dân làm gốc” vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy chính trị của đất nước. Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, tinh thần ấy đang được cụ thể hoá bằng chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân, nơi quyền lực của Nhân dân được thực thi mạnh mẽ qua từng lá phiếu và tiếng nói phản biện tại diễn đàn HÐND các cấp.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 2: Từ lá phiếu đầu tiên đến nghị trường

Trải qua 15 nhiệm kỳ gắn liền với 80 năm lịch sử Quốc hội Việt Nam, các thế hệ đại biểu Quốc hội (ÐBQH) tỉnh Cà Mau (bao gồm cả giai đoạn thuộc tỉnh Bạc Liêu và Minh Hải) đã luôn khẳng định vai trò là cầu nối vững chắc giữa ý chí của Nhân dân vùng cực Nam với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Từ những ngày đầu sơ khai của nền dân chủ đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dấu ấn của người đại biểu nơi đây luôn đậm nét trong từng quyết sách hệ trọng của quốc gia.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ

LTS: Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta cùng ngược dòng lịch sử về vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Giữa tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, người dân Cà Mau biến ngày 6/1/1946 thành "mốc son chói lọi", khẳng định quyền làm chủ và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc quyết không làm nô lệ.

Tiểu đoàn 307 - Huyền thoại và sự tiếp nối

Tiểu đoàn 307 không chỉ là cái tên đi vào những ca khúc cách mạng bất hủ, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Nam Bộ. Trên vùng đất Cà Mau kiên trung, dấu ấn của Tiểu đoàn đã được khắc ghi đậm nét trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Khởi nghĩa Hòn Khoai - Biểu tượng anh hùng bất tử

Cách đây 85 năm, tại Hòn Khoai - đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc, diễn ra sự kiện lịch sử lừng lẫy: cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Anh hùng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 giành toàn thắng.

Nhớ mái trường thời chiến

Giữa năm 1967, tôi được địa phương chọn đưa đi học Trường Bổ túc văn hoá tu nghiệp sư phạm huyện Trần Văn Thời, đào tạo giáo viên cho cơ sở.

Nghĩa tình son sắt, vượt thời gian

Mối quan hệ kết nghĩa giữa Ninh Bình (miền Bắc hậu phương) và Bạc Liêu (miền Nam tiền tuyến, nay là tỉnh Cà Mau) là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết Bắc - Nam, hưởng ứng phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh do Trung ương Ðảng phát động năm 1960. Vượt qua khoảng cách địa lý, tình nghĩa keo sơn này được hun đúc và phát triển bền vững từ những năm tháng kháng chiến đến ngày nay.

Treo cờ dụ địch

Hướng tới ngày kỷ niệm Chiến thắng Ðầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (23/11/1963), tôi xin viết lại câu chuyện treo cờ dụ địch, ghi theo lời kể của đồng chí Châu Thái Biết, nguyên Tiểu đội trưởng Trinh sát đặc công, Tiểu đoàn 306 anh hùng (đã mất cách đây gần 3 năm), như sự tri ân những người trực tiếp làm nên chiến công bất tử trên mảnh đất Cà Mau giàu truyền thống cách mạng.