Thứ bảy, 9-5-26 14:33:30
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Dấu hiệu mùa xuân

Báo Cà Mau Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.

Lá cờ Ðảng dài 2 m, rộng 1 m, dưới góc có khẩu hiệu “Diệt trừ Pháp tặc” và ghi tên “Ngọc - Ðức - Thế” (tên lót của 3 thanh niên treo cờ: Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Ðức Cao và Lương Thế Trân). Sáng ra, người dân quanh Ðình Tân Hưng và những người đi chợ đều trông thấy lá cờ ấy. Tại chợ Cà Mau, bà con sôi nổi bàn tán quốc sự. Bọn hương chức, lính làng bối rối, hốt hoảng, giở mọi trò để trấn an và sẵn sàng đàn áp.

Trong 3 người treo cờ ấy, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Lương Thế Trân như một huyền thoại. Lương Thế Trân sinh năm 1911, là con cả của ông Lương Xuân Quang và bà Nguyễn Thị Diệp ở rạch Cái Nhum, làng Tân Hưng. Cha ông là nhà giáo - người dân địa phương thường gọi là giáo Năm, có chí hướng cách mạng. Lớn lên, Lương Thế Trân lên Sài Gòn học tập, may mắn tiếp xúc với các nhà cách mạng như: Ung Văn Khiêm, Nguyễn Công Trung... đều là những người gắn bó với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trong phong trào học sinh, sinh viên lúc bấy giờ, ông bị mật thám, cảnh sát theo dõi, bắt rồi thả nhiều lần, ra vào khám quen mặt, đến mức thành danh với bọn chúng: “thằng Lương bất khuất”.

Sau khi treo cờ Ðảng ở Đình Tân Hưng không lâu, ông bị địch bắt và trải qua những ngày đêm bị đánh đập, hù doạ. Chàng thanh niên 19 tuổi, trước toà, nếu tự nhận mình bị xúi giục thì sẽ được thả, nhưng Lương Thế Trân dõng dạc trả lời: “Tôi có học, hành động của tôi có suy nghĩ, không phải làm việc trẻ con”. Ban đầu, chúng kêu án biệt giam ở Yệm (nơi giam tội nhân còn thiếu niên), nhưng sau đó đã chuyển án đày ra Côn Ðảo.

Di tích Ðình Tân Hưng, nơi treo cờ Ðảng Cộng sản Ðông Dương đầu tiên ở Cà Mau, đồng thời là nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Mặt trận Tân Hưng và Mặt trận chống Pháp. Ảnh: HUỲNH LÂM

Tại Côn Ðảo, qua chế độ lao tù tàn bạo, Lương Thế Trân càng rèn luyện ý chí gang thép, trau dồi lý luận cách mạng, hăng hái đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chống đánh đập, hành hạ tù nhân. Trưởng thành từ ngục tù, Lương Thế Trân cùng một số chiến sĩ cách mạng trở về đất liền tiếp tục con đường cách mạng, đi sâu vào đời sống nông dân nghèo bị địa chủ bóc lột, những người bị địch bắt làm xâu trên con lộ Cà Mau - Năm Căn, đòi cung cấp đủ gạo, giảm giờ công, ngày làm xâu. Bằng trình độ học vấn, ông sáng tác nhiều bài văn vần dễ đọc, dễ nhớ để tuyên truyền, giác ngộ thanh niên. Ðến nay, có người còn nhớ những câu thơ: “Ðoàn ta là thanh niên xích vệ/ Chúng ta là vệ đội nghèo xơ/ Sinh ra trong lao lý khốn cùng/ Chúng ta quyết chiến đấu hy sinh...”.

Từ những hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng hiệu quả đến đấu tranh vì quyền lợi của người dân nghèo, uy tín và năng lực của Lương Thế Trân ngày càng được khẳng định, tạo tiền đề để ông được tổ chức tin tưởng giao phó những trọng trách quan trọng. Tháng 5/1940, Lương Thế Trân được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Bạc Liêu. Tháng 6/1940, theo lệnh cấp trên, ông đi công tác ở vùng Gò Ân - Nước Xoáy - Vũng Liêm để tiếp sức chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam Kỳ. Vì nhiều lý do, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940 không diễn ra đúng kế hoạch, Lương Thế Trân từ cù lao Năm Thôn (Tiền Giang) về căn cứ ở Trà Vinh thì bị địch bắt.

Lần nữa rơi vào tay kẻ thù, Lương Thế Trân bị chúng dùng mọi cực hình tra tấn đến bại liệt và áp giải về bót Bạc Liêu chờ ngày xét xử. Cùng lúc, địch cho lính đốt sạch nhà cửa, tài sản của gia đình ông. Không dừng lại ở đó, chúng bắt giải cả gia đình ông về bót, gồm cha ông và các em Lương Thế Châu, Lương Thế Phương, Lương Thế Hân. Không làm lung lay được ý chí của người cộng sản kiên trung, địch đày ông ra Côn Ðảo lần thứ hai với số tù 368.788.

Ba lần đứng trước toà án kẻ thù, Lương Thế Trân đều tỏ rõ khí phách người cộng sản, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Chuỗi năm tháng tù đày của ông cũng chính là quá trình tôi luyện bản lĩnh và lòng trung kiên theo cách mạng: ngày 2/8/1930, Toà án Bạc Liêu xử phạt 30 tháng tù về tội hành động nguy hại đến an ninh; ngày 23/6/1938, Toà thượng thẩm Sài Gòn tuyên phạt 3 tháng tù về tội gây cản trở đến tự do làm việc; ngày 13/8/1941, Toà án tỉnh Bạc Liêu xử phạt 5 năm tù và 10 năm cấm cư trú tại một số địa phương vì tội “phản nghịch”. Ông trở thành đối tượng bị địch đặc biệt dành cho các nhục hình tàn khốc, bỏ đói khát, ngủ lạnh... nhằm moi móc thông tin và uy hiếp tinh thần những tù nhân khác.

Ngọn lửa cách mạng trong tim Lương Thế Trân vẫn cháy sáng, nhưng trước chế độ nhà tù hà khắc, khốc liệt, sức khoẻ ông dần suy kiệt. Ông hy sinh tại Côn Ðảo ngày 21/8/1942 (có tài liệu ghi ngày 6/9/1941), phần mộ ở khu A - Nghĩa trang Hàng Dương. Cái chết hiên ngang, bất khuất của ông gây xúc động sâu sắc đối với các đồng chí bạn tù. Hai câu đối do ông Lê Tích Sang mang về trao tặng gia đình thể hiện niềm thương tiếc lẫn ngưỡng mộ: “Tuẫn tiết anh phong, bia sử lưu hương, thiên cổ tú / Trận vong liệt sĩ, lâu đài tạc tích, vạn niên xuân”.

Trong lần gặp vợ cuối cùng tại bót tỉnh lỵ Bạc Liêu trước khi bị đày ra Côn Ðảo, như linh cảm số phận của mình, Lương Thế Trân dặn dò: “Tôi chắc không về được nữa rồi. Mình ráng thay tôi nuôi nấng mấy đứa nhỏ nên người, nối chí ba nó; mình đừng làm điều gì tổn thương đến vinh dự gia đình”. Ghi nhớ lời ông dặn, bà nuôi dạy các con trưởng thành, tiếp nối con đường cách mạng, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Bà thanh thản ra đi ngày 17/12/1987.

Tân Hưng - vùng đất địa linh nhân kiệt, sản sinh những người con ưu tú như: Trần Văn Thời, Lương Thế Trân và nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối khác.

Bia kỷ niệm Mặt trận Tân Hưng. Ảnh: HUỲNH LÂM

Từ "dấu hiệu mùa xuân" ngày 1/5/1930 để 15 năm sau có cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; để 45 năm sau có chiến thắng mùa xuân lịch sử năm 1975, giang sơn nối liền một dải; để 95 năm sau có một nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, ngày càng hùng cường, thịnh vượng./.

Nguyễn Thái Thuận

Lung Máng Diệc - Vết thương và sự tri ân

Những ngày tháng 4, cả nước rộn ràng không khí hướng về kỷ niệm 51 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026) với niềm xúc động lẫn tự hào. Nhưng giữa niềm tự hào chung của dân tộc, ở Lung Máng Diệc vẫn còn khoảng lặng của mất mát, nhắc nhớ rằng phía sau hoà bình, độc lập là những hy sinh không thể nào quên.

Tự hào tiếp nối truyền thống

Trong những ngày tháng Tư lịch sử, hành trình trở về với cội nguồn đang được người trẻ lan toả mạnh mẽ. Lịch sử không còn là những trang sách khô khan mà hiện hữu qua từng ký ức, tái hiện qua từng “địa chỉ đỏ” và truyền đi thông điệp: phải biết trân trọng, gìn giữ và tiếp nối truyền thống dân tộc.

80 năm Trận Giồng Bốm - Vọng mãi khúc tráng ca

Sáng 30/4, tại Di tích Lịch sử quốc gia Địa điểm trận Giồng Bốm (xã Phong Thạnh), UBND tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (15/4/1946-15/4/2026).

Sáng ngời tinh thần “cứu nước là cứu đạo”

Cách nay tròn 80 năm, tại xã Phong Thạnh đã diễn ra trận chiến ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược. Toà thánh Ngọc Minh bị tàn phá nặng nề, 137 chiến sĩ “áo trắng” anh dũng hy sinh. Dù không giành thắng lợi về quân sự, trận Giồng Bốm đã tạo tiếng vang khắp Nam Bộ, giáng đòn mạnh vào âm mưu của kẻ thù.

Trọn nghĩa tri ân

Thời gian qua, công tác “đền ơn đáp nghĩa” tại xã Hưng Mỹ luôn được quan tâm thực hiện, thông qua những việc làm thiết thực và giàu tính nhân văn. Từ những phần quà tri ân, những mái nhà tình nghĩa đến sự sẻ chia trong đời sống hàng ngày, tất cả góp phần chăm lo tốt hơn cho các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, tô thắm đạo lý "uống nước nhớ nguồn" trong cộng đồng.

Sức sống cách mạng qua những địa danh anh dũng

Ði qua những năm tháng đạn bom, cùng với xương máu, hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ, những địa danh như: Chống Mỹ, Anh Dũng, Quyết Chiến, Quyết Thắng... đã gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn nửa thế kỷ thống nhất, những tên gọi này vẫn vang vọng hào khí cha ông, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp truyền thống cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Người lưu giữ lịch sử

Với nhiều người dân Cà Mau, ông Sáu Sơn là gương mặt quen thuộc, như “người kể chuyện lịch sử” - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Kể chuyện lịch sử tại Bảo tàng tỉnh Cà Mau. Ông đã dành nhiều năm cuộc đời để truyền lửa đam mê lịch sử cho thế hệ trẻ.

Giồng Bốm - 80 năm vọng mãi hào khí kháng chiến

"Ai qua Giồng Bốm hôm nay/ Nhớ ngày khởi nghĩa chống Tây hôm nào". Cách nay 80 năm trận Giồng Bốm ghi dấu một mốc son chói lọi trong cuộc đấu tranh chống Pháp của Nhân dân vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Sự hy sinh của những nghĩa quân “áo trắng” là biểu tượng bất diệt cho tinh thần "đạo không rời đời, dân không rời nước", để lại niềm xúc động và sự tri ân sâu sắc trong lòng hậu thế. Trong tiến trình phát triển, di tích Giồng Bốm đã trở thành bảo tàng tinh thần lưu giữ những giá trị vô giá cho thế hệ mai sau.

Hào hùng chiến thắng Ðất Cháy

Tháng 4/1971, trong cái nắng như đổ lửa, cánh đồng Ðất Cháy (xã Phong Lạc cũ, nay là Xã Trần Văn Thời) ngả màu vàng sậm, những gốc rạ trơ đen, mương phèn khô nứt nẻ; bờ chuối, hàng tràm sau hậu đất lá khô rủ xuống, vàng hoe.

“Ngọn lửa” kiên trung của phụ nữ Nam Bộ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử kháng chiến Việt Nam, có những người phụ nữ mà cuộc đời họ đã trở thành huyền thoại, gắn liền với sự sống còn của phong trào cách mạng miền Nam. Bà Nguyễn Thị Ðược (bí danh Thanh), còn được gọi với tên thân mật Hai Ðược, là biểu tượng như thế.