Bạc Liêu là một vùng đất trẻ được các tiền nhân khai phá muộn màng vào cuối thế kỷ XVII. Ngoài những tài sản bất ly thân, lưu dân 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer còn mang theo bên mình vốn văn nghệ dân gian để làm hành trang tinh thần trên bước đường xa xứ. Hành trang văn nghệ của họ là những tiếng đàn, câu hát mang đậm chất dân ca, hay âm hưởng của âm nhạc cổ truyền. Tất cả các âm hưởng này khi đến vùng đất Bạc Liêu hữu duyên, hòa hợp đã góp phần làm nền tảng cho sự hình thành và ra đời của cổ nhạc Bạc Liêu.
Trước thế kỷ XX, cổ nhạc Bạc Liêu đã hình thành nhưng chưa phát triển. Các nhạc bản được sử dụng vào thời gian này chỉ là các làn điệu dân ca trữ tình dần dần phát triển bổ sung thêm các bài bản nhạc lễ cổ truyền. Đến đầu thế kỷ XX, Bạc Liêu mới xuất hiện một số nghệ nhân cổ nhạc tên tuổi như Lê Tài Khí, Sư Nguyệt Chiếu, Phạm Nguyên Kiên… mà người có công lao lớn nhất đặt nền móng cho cổ nhạc Bạc Liêu là nghệ nhân Lê Tài Khí (thường gọi Nhạc Khị), người đời còn tôn xưng ông là Hậu tổ cổ nhạc. Chính Nhạc Khị là người đầu tiên thành lập ra Ban nhạc lễ cổ truyền, khai sáng phong trào đờn ca tài tử Bạc Liêu và khởi xướng phong trào sáng tác các bài bản cổ nhạc rầm rộ nhất vào những năm đầu thế kỷ XX mà còn âm vang cho đến tận ngày nay. Hưởng ứng phong trào sáng tác này, các học trò của ông cùng các thành viên trong Ban nhạc lễ cổ truyền đã sáng tác hàng loạt tác phẩm. Trong các sáng tác ấy, có một tác phẩm diệu kỳ của nhạc sĩ Cao Văn Lầu là bản Dạ cổ hoài lang. Chính tác phẩm này đã mở ra một trào lưu sáng tác mới và định hình cho một dòng chảy cổ nhạc xuyên suốt trong lịch sử âm nhạc nước nhà cho đến tận ngày nay. Bản Dạ cổ hoài lang ra đời đến nay đã trải qua 5 giai đoạn phát triển kéo dài hơn 90 năm. Mỗi một giai đoạn phát triển thì bản vọng cổ lại tự hoàn thiện mình và thâm nhập sâu rộng trong lòng người hâm mộ, đồng thời đã sản sinh ra nhiều thế hệ tác giả, danh ca, danh cầm đóng góp đắc lực và làm rạng rỡ lịch sử cổ nhạc dân tộc.
![]() |
| Các diễn viên Đoàn cải lương Cao Văn Lầu biểu diễn bài “Dạ cổ hoài lang” trong Lễ giỗ Tổ cổ nhạc năm 2013. Ảnh: C.T |
Theo nhiều nhà nghiên cứu, phong cách ca vọng cổ được hình thành bởi 2 lối ca là ca sa lon (có người gọi là ca thính phòng) và ca sân khấu. Ca sa lon là hình thức ca trong phòng hay trong không gian nhỏ, phần trình diễn có giới hạn và đáp ứng chỉ một ít đối tượng, còn ca sân khấu là hình thức ca trước công chúng, thể hiện vai diễn như thật, khi ca cần phải kết hợp với diễn, nói, cử chỉ điệu bộ và các yếu tố khác… Ngoài phong cách, nghệ thuật ca vọng cổ còn được khẳng định qua chất giọng và làn hơi của người nghệ sĩ. Chất giọng càng độc đáo, làn hơi càng điêu luyện thì người ca càng dễ tạo được ấn tượng trong lòng người hâm mộ. Bạc Liêu là quê hương của bản vọng cổ, chính nơi này đã hình thành và phát triển nhiều giọng ca rất đặc biệt như ca buồn, ca mùi, ngọt ngào, ca lướt nhịp, ca dài hơi, ca quăng bắt, ca chinh hột lúa, ca trùm láy, ca nhịp chỏi, ca lô tô, ca nói, ca lòn…
Điều đặc biệt, bản vọng cổ luôn mang âm hưởng về Bạc Liêu, hầu như ai cũng biết, Bạc Liêu là “chiếc nôi” của vọng cổ. Chính vùng đất này, với điều kiện xứ sở con người có những sắc thái đặc thù đã góp phần xây dựng tư tưởng, tình cảm và khơi dậy tiềm năng sáng tạo trong con người nhạc sĩ Cao Văn Lầu. GS Trần Văn Khê đã nói: “Trong cổ nhạc Việt Nam chưa có bài nào, bản nào được như bản Dạ cổ hoài lang biến thành vọng cổ. Từ một sáng tác cá nhân đã biến thành sáng tác tập thể, sinh ra từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt trong nước và rải rác khắp năm châu…”.
Quê hương Bạc Liêu đã sản sinh, hun đúc, đào tạo những thế hệ nghệ sĩ đã cất công phát triển bản vọng cổ từ nhịp 2 đến các nhịp 4, 8, 16, 32 và 64, làm cho bản vọng cổ vang vọng đến tận ngày nay. Thậm chí, thuật ngữ vọng cổ trở thành thành ngữ và ở ngoài cửa miệng của người dân Bạc Liêu: “Rành 6 câu vọng cổ”, “mùi như vọng cổ”, “mê như vọng cổ”…
Trải qua hơn 90 năm hình thành và phát triển, bản vọng cổ Bạc Liêu đã lớn lên thật không ngờ, vượt qua thời gian và không gian làm nên sự trường tồn cho một thể loại âm nhạc độc đáo trong dòng chảy âm nhạc dân tộc. Khó có ai đoán được bản vọng cổ từ khi ra đời có nhịp 2 dần dần biến đổi thành nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32, nhịp 64; từ 20 câu xuống còn 6 câu rồi 4 câu và tương lai nó sẽ biến đổi ra sao nữa. Song có một điều phải khẳng định là bản vọng cổ mãi mãi vẫn là bài dân ca Nam bộ mang đậm nét trữ tình buồn, luôn biết cách tân đổi mới để tồn tại, lớn lên cùng với sự lớn lên của dân tộc, đã làm rạng danh quê hương Bạc Liêu đã sản sinh ra nó.
Thạc sĩ LÂM THÀNH ĐẮC

Truyền hình








Xem thêm bình luận