Thứ ba, 10-2-26 09:14:26
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Biểu tượng 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer ở Quảng trường Hùng Vương

Báo Cà Mau

* Các mốc lịch sử và sự kiện quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Bạc Liêu

LTS: Hiện nay Quảng trường Hùng Vương đang chuẩn bị khánh thành phục vụ Festival Đờn ca tài tử quốc gia lần thứ nhất. Một số hạng mục tại Quảng trường đã được hoàn thành, trong đó có biểu tượng của ba dân tộc tỉnh Bạc Liêu.
Trên biểu tượng của ba dân tộc có khắc các nhóm số, thể hiện những con số liên quan đến các mốc lịch sử, các sự kiện quan trọng về kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bạc Liêu. Nhằm giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về thông tin này, kể từ số báo 2369, báo Bạc Liêu sẽ lần lượt đăng tải các mốc lịch sử và sự kiện quan trọng nói trên.

Biểu tượng ba dân tộc đặt tại Quảng trường Hùng Vương. Ảnh: C.T

1. Cột mốc: 18/12/1882

Ý nghĩa: Ngày 18/12/1882, thành lập hạt Bạc Liêu.

Diễn giải: Sau khi chiếm được Nam kỳ, ngày 18/12/1882, chính quyền thực dân Pháp thành lập hạt Bạc Liêu, hạt thứ 21 của Nam kỳ. Đây là sự kiện đánh dấu lần đầu tiên Bạc Liêu trở thành một đơn vị hành chính độc lập.

2. Cột mốc: 1/1/1900

Ý nghĩa: Ngày 1/1/1900, thành lập tỉnh Bạc Liêu.

Diễn giải: Tỉnh Bạc Liêu được thành lập trên cơ sở Nghị định ngày 20/12/1899 của Toàn quyền Đông Dương, đổi tên hạt Bạc Liêu thành tỉnh Bạc Liêu, gồm phần lớn đất đai thuộc tỉnh Hà Tiên và một phần tỉnh An Giang, gồm 7 tổng: Long Thủy, Quảng Xuyên, Quảng Long, Quảng An, Thạnh Hòa, Thạnh Hưng, Long Thới.

Địa bàn tỉnh Bạc Liêu khi đó bao gồm cả tỉnh Cà Mau hiện nay.

Ngày 1/1/1900, Quyết định nêu trên có hiệu lực.

3. Cột mốc: (15/8 âl năm Kỷ Mão) - 8/10/1919

Ý nghĩa: Ngày 8/10/1919 (15/8 âl), bản Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu ra đời.

Diễn giải: Ông Cao văn Lầu sinh ngày 22/12/1890, tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Năm lên 4 tuổi, ông theo cha mẹ về Bạc Liêu sinh sống.

Bản Dạ cổ hoài lang được ông sáng tác năm 1919 và hoàn thiện vào ngày Rằm Trung thu năm 1919 (ngày 8/10/1919). Dạ cổ hoài lang là tiền thân của bản vọng cổ ngày nay.

Đây là một tác phẩm bất hủ, từ khi ra đời đã nhanh chóng chiếm vị trí chủ chốt trong nghệ thuật đờn ca tài tử Nam bộ và trở thành “bài ca vua” của sân khấu cải lương cho đến ngày nay.

4. Cột mốc: 5/5/1927

Ý nghĩa: Ngày 5/5/1927, nổ ra cuộc nổi dậy vũ trang của nông dân Ninh Thạnh Lợi, do Hương Chủ Chọt lãnh đạo chống ách thống trị của thực dân Pháp và cường hào, gây tiếng vang lớn.

Diễn giải: Quá bất bình trước ách thống trị của thực dân Pháp và cường hào địa phương, ông Trần Kim Túc (Hương Chủ Chọt) đã vận động hàng trăm nông dân dùng dao, mác đứng lên chống lại tên địa chủ Bô-vin Ây-nô và các thế lực can thiệp khác như Tỉnh trưởng Rạch Giá, Quận trưởng Phước Long và lính mã tà...

Cuộc nổi dậy nổ ra ngày 5/5/1927 và kéo dài đến ngày 9/5/1927. Mặc dù 20 người đã hy sinh nhưng lực lượng nổi dậy đã bắn bị thương tên cò Bu-Chê, giết 3 lính mã tà, cướp 3 khẩu súng, gây tiếng vang lớn làm cho thực dân Pháp và bọn cường hào phải chùn bước.

5. Cột mốc: 16/2/1928

Ý nghĩa: Ngày 16/2/1928, diễn ra sự kiện Đồng Nọc Nạng của gia đình ông Mười Chức tại Phong Thạnh, Giá Rai, gây chấn động dư luận cả nước.

Diễn giải: Tên địa chủ Mã Ngân (thường gọi là Bang Tắc) dùng nhiều thủ đoạn xảo quyệt, cướp lúa, cướp đất của gia đình Mười Chức. Anh em ông Mười Chức đã quyết tử giữ lúa, giữ đất chỉ với giáo mác, gậy gộc, chống lại địa chủ Bang Tắc, hai tên cò Pháp và lính mã tà, lính kín, Hương chức Hội tề làng Phong Thạnh.

Tuy vợ chồng ông Mười Chức và hai người em tử nạn, song đã tiêu diệt được tên cò Tua-ni-ê và một số lính mã tà. Tòa Đại hình thực dân Pháp xử vụ án Đồng Nọc Nạng, những người bị bắt trong gia đình ông Mười Chức được tha bổng.

Vụ án Đồng Nọc Nạng cùng với vụ án Ninh Thạnh Lợi gây chấn động dư luận cả nước. Nông dân Bạc Liêu sôi sục căm thù. Mâu thuẫn sâu sắc giữa nông dân và địa chủ phong kiến, giữa nhân dân Bạc Liêu và bọn đế quốc thống trị lên đến tột độ. Đó là tình thế mở đường cho những người cộng sản Việt Nam mang ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Nguyễn Ái Quốc đặt chân lên vùng đất Bạc Liêu.

6. Cột mốc: 2/1930

Ý nghĩa: Tháng 2/1930, Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu ngày nay được thành lập.

Diễn giải: Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (3/2/1930), đồng chí Trần Văn Giác, Nguyễn Minh Tân, Nguyễn Văn Cừ đến làng Phong Thạnh kết nạp đồng chí Nguyễn Văn Uông vào Đảng. Sau đó, các đồng chí Trần Văn Tiện, Châu Văn Lục cũng được kết nạp vào Đảng.

Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu (ngày nay) được thành lập tại vườn nhà đồng chí Trần Văn Tiện, làng Phong Thạnh, quận Giá Rai (nay là ấp Rạch Rắn, xã Long Điền, huyện Đông Hải), gồm 3 đảng viên, do đồng chí Nguyễn Văn Uông làm Bí thư.

7. Cột mốc: 1/5/1930

Ý nghĩa: Ngày 1/5/1930, lần đầu tiên lá cờ Đảng xuất hiện tại Thành Bạc Liêu.

Diễn giải: Nhân kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930, tại Thành Bạc Liêu tuy chưa có cơ sở Đảng, nhưng ảnh hưởng của Đảng khá mạnh.

Một số thanh niên yêu nước: Tào Văn Tỵ, Huỳnh Kim Kế, Huỳnh Chấn Gia tự động cùng nhau làm hai lá cờ đỏ búa liềm và dòng chữ “Cộng sản đánh Tây”, một lá treo tại bến đò Giữa (phường 5, TP. Bạc Liêu hiện nay); một lá treo trước cổng thành lính mã tà (trước Siêu thị Vinatex hiện nay).

8. Cột mốc: 13/12/1940

Ý nghĩa: Ngày 13/12/1940, khởi nghĩa Hòn Khoai.

Diễn giải: Tháng 12/1940, chủ trương hoãn không phát động khởi nghĩa Nam kỳ của Trung ương lâm thời chưa tới được Xứ ủy Nam kỳ, do đó, cuộc khởi nghĩa Nam kỳ vẫn nổ ra ở nhiều tỉnh, trong đó có Bạc Liêu.

Tại Bạc Liêu, 3 khu vực khởi nghĩa là: Khu vực 1 - thị trấn Năm Căn và Hòn Khoai; Khu vực 2 - thị trấn Cà Mau và một số làng chung quanh; Khu vực 3 - Thành Bạc Liêu và các quận Giá Rai, Vĩnh Lợi. Theo kế hoạch, nửa đêm 13/12/1940, Hòn Khoai sẽ nổi dậy, sau khi giành thắng lợi sẽ phối hợp với du kích làng Tân Hưng Tây và quần chúng đánh lấy Năm Căn, tiếp đó sẽ kéo về chi viện cho thị trấn Cà Mau.

Theo đúng kế hoạch, 23 giờ 15 phút, đêm 13/12/1940, cuộc nổi dậy do đồng chí Phan Ngọc Hiển chỉ huy đã nhanh chóng giành thắng lợi trọn vẹn, giữ bí mật tới phút cuối.

Tuy nhiên, khi trở về đất liền, do không liên lạc được với Ban chỉ huy khởi nghĩa khu vực, lại bị 2 tàu chở đầy lính tập và lính mã tà tấn công, truy đuổi, các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã phải rút vào rừng để bảo toàn lực lượng. Sau những ngày đêm băng rừng, vượt sông, chịu đói, chịu khát và kiệt sức, sáng 22/12/1940, bọn địch đã bắt được các chiến sĩ tại rẫy Khai Long.

Sau hơn 6 tháng giam cầm, tra tấn các chiến sĩ, ngày 12/7/1941, thực dân Pháp đã đem 10 chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai ra hành quyết tại Sân vận động Cà Mau.

Tinh thần cách mạng của các chiến sĩ khởi nghĩa Hòn Khoai đã biểu thị lòng yêu nước, ý chí quật cường bất khuất, quyết hy sinh vì độc lập, tự do của nhân dân, là bài học quý báu cho cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Bạc Liêu.

Ngày 13/12 đã trở thành Ngày truyền thống cách mạng của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Minh Hải trước đây và của tỉnh Cà Mau hiện nay.

9. Cột mốc: 23/8/1945

Ý nghĩa: Ngày 23/8/1945, lần thứ nhất, Bạc Liêu giành chính quyền từ tay giặc, không phải đổ máu.

Diễn giải: Ngày này, quân và dân Bạc Liêu đã đấu tranh với chính quyền bù nhìn của thực dân Pháp tại Bạc Liêu, do Tỉnh trưởng Trương Công Thiện đứng đầu, đã giành được chính quyền về tay nhân dân trong hòa bình, không phải đổ máu.

Ngày 23/8 đã trở thành Ngày truyền thống cách mạng của Đảng bộ, quân và dân tỉnh Bạc Liêu hiện nay.

10. Cột mốc: 15/4/1946

Ý nghĩa: Ngày 15/4/1946, diễn ra trận đánh quyết tử tại mặt trận Giồng Bốm, do nhân sĩ trí thức Cao Triều Phát lãnh đạo. Đây là trận đánh lớn nhất của đồng bào tín đồ Cao Đài Hậu Giang trong kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ.

Diễn giải: Tháng 2/1946, Bộ Chỉ huy Quân khu 9 quyết định thành lập 3 mặt trận: Mặt trận Ngan Dừa - Phước Long; Mặt trận Cái Tàu - An Biên và Mặt trận Tân Hưng.

Sau khi Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 ra đời, Ban Thường vụ Trung ương Đảng có chỉ thị “Hòa để tiến”, chủ trương một mặt phải ôn hòa, một mặt phải luôn chuẩn bị bồi dưỡng lực lượng, nâng cao tinh thần kháng chiến của toàn dân để đối phó với những tình huống bất ngờ có thể xảy ra.

Thực hiện chủ trương trên, theo lời kêu gọi của cụ Cao Triều Phát, Ủy viên Ủy ban Hành chính Nam bộ, đứng đầu tổ chức Cao đài 11 phái thống nhất, hơn 2.000 tín đồ Cao Đài Hậu Giang tập trung về Thất Giồng Bốm (nay là ấp 5, xã Phong Thạnh Tây, huyện Giá Rai) đào công sự, luyện tập võ nghệ chống Pháp, bảo vệ đạo.

Sau một số trận đánh của lực lượng phòng thủ của Cao Đài Hậu Giang đã bẻ gãy các đợt tấn công của quân Pháp vào Thất Giồng Bốm; ngày 15/4/1946, Pháp đưa 2 tiểu đoàn quân viễn chinh tấn công vào Thất Giồng Bốm. Tương quan không cân sức, lực lượng phòng thủ đạo phải mở đường máu rút lui để bảo toàn lực lượng. Toàn bộ nhà cửa và thánh thất bị giặc đốt, trên 100 chức sắc và thanh niên đạo Đức Đoàn tử trận.

Đây là trận đánh lớn nhất của đồng bào tín đồ Cao Đài Hậu Giang trong kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ.

11. Cột mốc: 11/1947

Ý nghĩa: Tháng 11/1947, tàu La-téc-rơ, chiếc tàu chiến lớn nhất của Pháp tại tỉnh Bạc Liêu lọt vào ổ phục kích thủy lôi của ta và nổ tung trên sông Gành Hào, ghi nhận chiến công của Tỉnh đội trưởng Tào Văn Tỵ, người được mệnh danh là “Thủy đô chiến đầu tiên của Việt Nam”.

Diễn giải: Hưởng ứng chỉ thị Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng và Bác Hồ, với địa bàn sông nước, kênh rạch chằng chịt, trong điều kiện vô cùng thiếu thốn về vũ khí, đồng chí Tào Văn Tỵ, Tỉnh đội trưởng Bạc Liêu đã đề xuất cách đánh tàu địch: Vận động nhân dân gom góp thủy lôi do quân Nhật thả ngoài biển mang về đánh tàu sắt của Pháp.

Ngày 15/5/1947, tại Đầm Dơi, tàu La-tô-năng lọt vào trận địa thủy lôi và nổ tung, chìm tại chỗ; quân ta thu hàng trăm khẩu súng các loại; tháng 11/1947, trận thủy lôi chiến ở Ngã Ba Đình đánh chìm 2 tàu lồng cu, 1 ghe máy, diệt trên 80 quân Pháp; các trận thủy lôi chiến ở Giá Ngựa, Mây Dố, Vàm Đình, Mương Điều, Ao Kho, đặc biệt là trận thủy lôi chiến làm nổ tung tàu La-téc-rơ trên sông Gành Hào, cùng với các trận đánh tiêu diệt đồn địch quanh Châu Thành Bạc Liêu, chợ Hội, Huyện Sử, Thới Bình… khiến quân Pháp hoảng sợ, rút hết đồn ở nông thôn về tuyến đường Bạc Liêu đi Cà Mau. Cuối năm 1947, cả tỉnh Bạc Liêu có 27/34 xã được giải phóng. Vùng nông thôn giải phóng của Bạc Liêu được mở rộng, nối liền vùng nông thôn giải phóng tỉnh Rạch Giá, Sóc Trăng, Cần Thơ rộng mênh mông, tạo ra nguồn nhân lực, vật lực dồi dào, cung ứng kịp thời cho cuộc kháng chiến ở Nam bộ.

Cách đánh thủy lôi chiến là cách đánh độc đáo, gắn liền với tên tuổi của đồng chí Tào Văn Tỵ, Tỉnh đội trưởng Bạc Liêu. Hiện nay, tại trụ sở Bộ Quốc phòng, hình ảnh của ông được treo với chú thích: “Thủy đô chiến đầu tiên của Việt Nam”.

12. Cột mốc: 1949 - 1954

Ý nghĩa: Năm 1949, cơ quan Xứ ủy Nam bộ, sau này là Trung ương Cục miền Nam, dời địa điểm từ Đồng Tháp Mười về xóm Cái Chanh, ấp Cây Cui, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân.

Trung ương Cục miền Nam đóng tại Khu căn cứ này cho đến cuối năm 1954.

Diễn giải: Tháng 10/1949, các cơ quan Nam bộ được dời từ Đồng Tháp Mười về địa điểm này. Tại đây, Xứ ủy Nam bộ và sau này là Trung ương Cục miền Nam đã có nhiều chủ trương hết sức quan trọng để chỉ đạo cách mạng miền Nam lúc bấy giờ. Sự có mặt của Xứ ủy Nam bộ, của Trung ương Cục miền Nam và các đồng chí lãnh đạo mà sau này đã trở thành lãnh tụ của Đảng và Nhà nước ta, trong đó có các đồng chí: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Ung Văn Khiêm, Võ Văn Kiệt và nhiều đồng chí cán bộ cao cấp khác, là niềm vinh dự và sự cổ vũ lớn lao đối với Đảng bộ và quân dân Bạc Liêu. Từ thời điểm ấy, phong trào cách mạng ở Bạc Liêu đã được sự chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo.

Ngày 26/8/1954, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ chính thức có hiệu lực, tất cả cán bộ, chiến sĩ trên địa bàn tỉnh, trong đó có Khu căn cứ của Trung ương Cục miền Nam rút về Khu tập kết Giá Rai, Cà Mau, chuẩn bị tập kết ra miền Bắc.

13. Cột mốc: 31/1/1955

Ý nghĩa: Ngày 31/1/1955, chuyến tàu chở những cán bộ, chiến sĩ cuối cùng tập kết ra miền Bắc.

Diễn giải: Ngày 31/1/1955, tại vàm Sông Đốc, chuyến tàu chở hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ cuối cùng tập kết ra Bắc đã rời bến, mang theo cây vú sữa của một lão nông dân xã Trí Phải, huyện Thới Bình gửi tặng Bác Hồ. Đông đảo đồng bào lưu luyến tiễn đưa.

Trước đó, vào buổi sáng, tại Sân vận động quận Cà Mau - tỉnh Bạc Liêu, phát biểu trước 10.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Liên hiệp đình chiến Nam bộ, thay mặt Chính phủ Việt Nam dân chủ Cộng hòa khen ngợi tinh thần cách mạng của đồng bào trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; kêu gọi đồng bào, cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới, với niềm tin cách mạng nhất định thắng lợi, Bắc Nam sum họp một nhà.

14. Cột mốc: 1956

Ý nghĩa: Năm 1956, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam bộ, khởi thảo Đề cương cách mạng miền Nam, tiền đề để xây dựng Nghị quyết 15, tại xã Tân Hưng Tây, huyện Cái Nước, tỉnh Bạc Liêu.

Diễn giải: Sau khi tạm biệt đồng bào, cán bộ, chiến sĩ để bước xuống tàu trong chuyến tập kết cuối cùng ra miền Bắc, trong đêm tối, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư Xứ ủy Nam bộ đã được bí mật bố trí xuống xuồng quay trở lại Bạc Liêu, tiếp tục chỉ đạo cách mạng miền Nam bước vào trận chiến đấu mới. Đảng bộ Bạc Liêu đã được đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Võ Văn Kiệt và các đồng chí lãnh đạo khác trực tiếp chỉ đạo, tạo được tiền đề chính trị và tinh thần, tổ chức và lực lượng vô cùng quý giá, một nhân tố hết sức thuận lợi mà không phải tỉnh nào ở Nam bộ cũng có được.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng cũng đã được bảo vệ tuyệt đối an toàn. Ngay trong những ngày này, trước tình hình cách mạng có những chuyển biến mới, đồng chí Lê Duẩn đã bắt tay vào khởi thảo Đề cương cách mạng miền Nam, là tiền để ra đời Nghị quyết số 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

15. Cột mốc: 23/1/1960

Ý nghĩa: Ngày 23/1/1960, diễn ra Lễ kết nghĩa giữa tỉnh Ninh Bình và tỉnh Bạc Liêu, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Bác Hồ.

Diễn giải: Mùa Xuân năm 1960, lễ công bố Bắc - Nam kết nghĩa được tổ chức tại Câu lạc bộ Lao động (Hà Nội) khởi đầu cho phong trào Bắc Nam kết nghĩa theo chủ trương của Trung ương Đảng và của Bác Hồ, nhằm chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam, thực hiện công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sáng ngày 23/1/1960, tại hội trường Tỉnh ủy Ninh Bình, lễ kết nghĩa giữa tỉnh Ninh Bình và tỉnh Bạc Liêu đã được diễn ra, do đích thân đồng chí Phan Điền, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình chủ trì, cùng với các đồng chí cán bộ lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu tập kết ra miền Bắc tham dự.

Buổi tối cùng ngày, tại Sân vận động Ninh Bình đã diễn ra Lễ công bố kết nghĩa Ninh Bình - Bạc Liêu với đông đảo đồng bào Ninh Bình, sau đó là chương trình liên hoan văn nghệ thấm đượm tình nghĩa Bắc - Nam, đánh dấu một giai đoạn gắn bó giữa hai địa phương, ở hai đồng bằng, của hai miền đất nước.

16. Cột mốc: 19/10/1963

Ý nghĩa: Ngày 19/10/1963, diễn ra trận Lộc Ninh, trận thắng lớn nhất góp phần cùng toàn miền Nam làm phá sản chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ ngụy.

Diễn giải: Ngày 19/10/1963, địch huy động một lực lượng hùng hậu gồm thủy quân lục chiến và biệt động quân dùng trực thăng đổ quân đánh vào hậu cứ của ta tại ấp Bà Ai, Lộc Ninh, Hồng Dân. Địa phương quân huyện Hồng Dân phối hợp với lực lượng Khu đã bẻ gãy trận càn, tiêu diệt và làm bị thương trên 600 tên, bắn cháy tại chỗ 6 máy bay, nhiều chiếc khác bị thương.

Chiến thắng này là đòn giáng trả nặng nề vào quân chủ lực ngụy và chiến thuật “trực thăng vận” của chúng, thể hiện sức mạnh của chiến tranh nhân dân; là trận thắng lớn nhất góp phần cùng toàn miền Nam làm phá sản chiến thuật “trực thăng vận” của Mỹ ngụy.

17. Cột mốc: 31/1/1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân)

Ý nghĩa: Ngày 31/01/1968 (mùng 2 Tết Mậu Thân), diễn ra trận quyết chiến bi hùng của 41 chiến sĩ biệt động và du kích tại Rạp Chung Bá, 39 chiến sĩ đã hy sinh.

Diễn giải: Đêm mùng 1, rạng sáng mùng 2 Tết Mậu Thân (31/1/1968), 41 chiến sĩ biệt động thị xã Bạc Liêu và du kích xã Châu Hưng, Vĩnh Lợi tiến quân đánh chiếm mục tiêu Tòa Hành chính và Bộ Chỉ huy Sư đoàn 21 của địch.

Sau khi tiêu diệt 3 cụm tuyến và 20 tên địch, chiếm lĩnh 3 khu vực (Lò rèn Võ Tánh, một phần khu III và khu IV), địch tập trung nhiều loại hỏa lực, kể cả dùng máy bay rải bom xăng thiêu trụi toàn bộ nhà cửa trong khu vực quân ta chốt giữ nhằm tiêu diệt lực lượng ta.

Do bị cô lập, các chiến sĩ đã chọn Rạp Chung Bá (Rạp Cao Văn Lầu ngày nay) làm địa điểm tử thủ của mình. Gần một ngày chiến đấu, do không tương quan lực lượng, 39 chiến sĩ đã hy sinh sau khi chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bẻ gãy súng và nhảy lầu tự sát, quyết không để sa vào tay giặc. Hai đồng chí Trần Văn Tửng và Châu Tuấn Kiệt mở đường máu rút khỏi vòng vây của địch.

18. Cột mốc: 3/9/1969

Ý nghĩa: Ngày 3/9/1969, khởi công xây dựng Đền thờ Bác Hồ tại xã Châu Thới, huyện Vĩnh Lợi.

Diễn giải: Được tin Bác mất, Huyện ủy Vĩnh Lợi đã mượn ngôi nhà của gia đình ông Trần Văn Tến (là nơi tẩm liệm các liệt sĩ hy sinh), tổ chức lễ truy điệu Bác vào lúc 17 giờ, ngày 3/9/1969. Sau lễ truy điệu, ngôi nhà trở thành nhà tưởng niệm Bác. Đồng thời, Huyện ủy Vĩnh Lợi phát động các xã trong huyện xây dựng Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đầu năm 1971, địch đưa quân lính đến đốt ngôi nhà tưởng niệm Bác Hồ. Tháng 4/1971, Huyện ủy Vĩnh Lợi giao cho Xã ủy Châu Thới chỉ đạo lực lượng du kích phối hợp với địa phương quân đánh đồn địch ở Tân Tạo (xã Châu Hưng), phá ấp chiến lược, lấy sắt và dây chì gai đem về xây dựng Đền thờ Bác trên nền nhà tưởng niệm Bác (cũ). Khi sườn nhà được làm xong, địch hay tin cho lính từ Vĩnh Hưng đến phá Đền thờ. Chúng bắt chị em phụ nữ ấp Bà Chăng chở vật liệu về Vĩnh Hưng. Nhân lúc địch sơ hở, chị em phụ nữ chở vật liệu quay lại cất giấu chờ thời cơ xây dựng Đền thờ Bác Hồ.

Ngày 15/4/1972, Xã ủy Châu Thới họp Ban Chấp hành mở rộng, quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng Đền thờ Bác Hồ tại khuôn viên đất chùa ông Hai Kiệm - ấp Bà Chăng A (là vị trí Đền thờ hiện nay).

Ngày 25/4/1972 khởi công xây dựng Đền thờ Bác Hồ. Sau 24 ngày đêm vất vả bí mật, có lúc phải ngừng thi công vì địch càn quét, bắn phá, ngôi Đền thờ Bác đã được xây dựng hoàn tất bằng các vật liệu kiên cố, với diện tích 18,24m2 và khuôn viên rộng 6.000m2. Ngày 19/5/1972, Xã ủy Châu Thới đã làm lễ khánh thành Đền thờ nhân kỷ niệm 82 năm ngày sinh nhật Bác. Đồng thời, Huyện ủy chỉ đạo cho các lực lượng du kích, lực lượng địa phương quân Vĩnh Lợi và Đội bảo vệ Đền thờ bằng mọi giá, dù có phải hy sinh tính mạng cũng phải bảo vệ an toàn Đền thờ Bác Hồ.

Hiện nay, Đền thờ Bác Hồ ở Xã Châu Thới đã được trùng tu, mở rộng và khánh thành vào dịp 2/9/2011, đồng thời được Bộ VH-TT&DL công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

19. Cột mốc: 20/11/1973

Ý nghĩa: Ngày 20/11/1973, tái lập tỉnh Bạc Liêu lần thứ nhất.

Diễn giải: Ngày 20/11/1973, Khu ủy Tây Nam bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu lần thứ nhất, gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu.

Đồng chí Nguyễn Văn Đáng, Khu ủy viên được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy.

20. Cột mốc: 30/4/1975

Ý nghĩa: Ngày 30/4/1975, lần thứ hai, Bạc Liêu giành chính quyền từ tay giặc, không đổ máu. Bạc Liêu hoàn toàn giải phóng.

Diễn giải: Trước khí thế cách mạng dâng cao, cùng với sự đấu tranh khôn khéo của đại diện Mặt trận tỉnh Bạc Liêu, nhằm hạn chế tối đa sự hy sinh trước giờ giải phóng, đã buộc Đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp trao chính quyền cho cách mạng vô điều kiện, trước cả Sài Gòn.

Tỉnh Bạc Liêu một lần nữa được giải phóng trong hòa bình, làm nên kỳ tích hai lần giành chính quyền từ tay giặc không đổ máu, mang ý nghĩa nhân văn cao cả.

21. Cột mốc: 1/1/1976

Ý nghĩa: Ngày 1/1/1976, tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau hợp nhất thành tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu, sau đó là Minh Hải.

Diễn giải: Thực hiện Nghị quyết số 145-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc giải thể cấp khu, hợp tỉnh; Nghị quyết số 19-NQ/TW về điều chỉnh việc hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Ngày 1/1/1976, tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau hợp nhất thành tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu; ngày 10/3/1976 đổi tên thành tỉnh Minh Hải.

22. Cột mốc: 1/1/1997

Ý nghĩa: Ngày 1/1/1997, tỉnh Bạc Liêu tái lập lần thứ hai.

Diễn giải: Thực hiện Quyết định của Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10.

23. Cột mốc: 23/6/2003

Ý nghĩa: Ngày mà nhân dân và các lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh Bạc Liêu được phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân”.

Diễn giải: Với những thành tích anh dũng, kiên cường trong kháng chiến của nhân dân và các LLVT tỉnh Bạc Liêu, ngày 23/6/2003, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Quyết định số 355/2003/QĐ-CTN “về việc phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân” cho nhân dân và các LLVT tỉnh Bạc Liêu.

24. Cột mốc: 24/11/2006

Ý nghĩa: Ngày 24/11/2006 là ngày thành lập Trường đại học Bạc Liêu.

Diễn giải: Đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh trong khu vực Bán đảo Cà Mau, ngày 24/11/2006, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 1558/QĐ-TTg thành lập Trường đại học Bạc Liêu.

Trường chính thức hoạt động từ ngày 1/1/2007 và là trường đại học đầu tiên của Bạc Liêu.

25. Cột mốc: 2/9/2008

Ý nghĩa: Ngày 2/9/2008, lít bia đầu tiên của Công ty Cổ phần bia Sài Gòn - Bạc Liêu được đóng chai, chính thức tham gia thị trường.

Diễn giải: Ngày 16/7/2008 dây chuyền sản xuất bia của Công ty chính thức vận hành. Ngày 2/9/2008, lít bia đầu tiên chính thức được đóng chai và xuất xưởng.

Sản phẩm bia Sài Gòn - Bạc Liêu được đánh giá là một trong những sản phẩm bia ngon nhất trong số 26 nhà máy bia thuộc Tổng Công ty Bia, rượu, nước giải khát Sài Gòn (SABECO) trên khắp lãnh thổ Việt Nam, do nguồn nước ở Bạc Liêu rất phù hợp với công nghệ sản xuất bia của SABECO.

Từ thời điểm này, Công ty Cổ phần bia Sài Gòn - Bạc Liêu đóng góp vào ngân sách tỉnh 200 tỷ VNĐ/năm, bằng 1/5 tổng thu ngân sách trong cân đối - một con số ý nghĩa đối với tỉnh nghèo Bạc Liêu. Sự đóng góp này góp phần quan trọng vào sự kiện lần đầu tiên, Bạc Liêu thu ngân sách đạt 1.000 tỷ VNĐ vào năm 2012.

26. Cột mốc: 27/8/2010

Ý nghĩa: Ngày 27/8/2010, TX. Bạc Liêu chính thức trở thành TP. Bạc Liêu.

Diễn giải: Ngày 27/8/2010, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 32/NQ-CP, công nhận TX. Bạc Liêu là TP. Bạc Liêu, trực thuộc tỉnh.

Hiện nay, tỉnh đang triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh, xây dựng TP. Bạc Liêu trở thành đô thị loại II, thành phố xanh - sạch - đẹp và văn minh vào năm 2014.

27. Cột mốc: 27/9/2012

Ý nghĩa: Ngày 27/9/2012, Bạc Liêu trở thành điểm đến thứ 5 của du lịch ĐBSCL “Một điểm đến, 4 địa phương +”.

Diễn giải: Trên cơ sở Quyết định số 492/QĐ-TTg, ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Đề án thành lập vùng kinh tế trọng điểm vùng ĐBSCL (Cần Thơ, Cà Mau, An Giang, Kiên Giang), Hiệp hội Du lịch ĐBSCL (MDTA) đã kết nối 4 tỉnh, thành trên để cùng nhau ký kết chương trình hợp tác phát triển du lịch giai đoạn 2010 - 2015 và hướng đến năm 2020, hình thành “tứ giác du lịch” ở ĐBSCL.

Năm 2012, trước những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội nói chung, phát triển du lịch nói riêng của Bạc Liêu, Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ và MDTA đã đề xuất kết nạp Bạc Liêu vào “tứ giác du lịch” nêu trên.

Ngày 27/9/2012, tại Resort Hòn Trẹm, Kiên Giang, đại diện lãnh đạo 4 công ty du lịch thuộc “tứ giác du lịch” ĐBSCL và đại diện Công ty Cổ phần Du lịch Bạc Liêu đã ký kết hợp tác tổ chức và khai thác tua mới “ĐBSCL - Một điểm đến, 4 địa phương +”.

28. Cột mốc: 18/4/2013

Ý nghĩa: Ngày 18/4/2013, tại thành phố Ninh Bình, diễn ra Lễ kỷ niệm 53 năm kết nghĩa và ký kết hợp tác phát triển Ninh Bình - Bạc Liêu trong giai đoạn mới.

Diễn giải: Từ ngày 15 - 18/4/2013, Đoàn cán bộ của tỉnh Bạc Liêu đã chính thức đến thăm, tham dự các hoạt động kỷ niệm 53 năm kết nghĩa và ký kết hợp tác phát triển Ninh Bình - Bạc Liêu trong giai đoạn mới, với mong muốn xây dựng và phát triển mối quan hệ này trở thành mối quan hệ kết nghĩa mẫu mực trong phong trào kết nghĩa Bắc - Nam.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Võ Văn Dũng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã thay mặt Đảng bộ và nhân dân Bạc Liêu trân trọng gửi đến Đảng bộ và nhân dân Ninh Bình lời cảm ơn sâu sắc về sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa trong những năm tháng kháng chiến giành độc lập, cũng như trong xây dựng và phát triển Bạc Liêu từ sau ngày giải phóng đến nay.

Trong bối cảnh, điều kiện mới, cả hai tỉnh đều đã có những đổi thay sâu sắc và đang từng bước phát triển, hội nhập với cả nước, lãnh đạo hai tỉnh đã thống nhất ký kết Bản ghi nhớ hợp tác phát triển. Về phía tỉnh Bạc Liêu, sẽ: (1) - Xây dựng biểu tượng kết nghĩa giữa hai tỉnh. Bạc Liêu sẽ xây dựng Tượng đài kết nghĩa Ninh Bình - Bạc Liêu tại Quảng trường Hùng Vương. (2) - Đặt tên một số tuyến đường, công trình văn hóa công cộng mang các địa danh, nhân vật của Ninh Bình. (3) - Phát động phong trào sáng tác (vọng cổ và thơ ca, nhạc, kịch…) ca ngợi tình cảm gắn bó giữa hai tỉnh Ninh Bình và Bạc Liêu. (4) - Đẩy mạnh giáo dục truyền thống tốt đẹp giữa hai tỉnh; phối hợp tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, nghệ thuật giữa các đoàn nghệ thuật của hai địa phương. (5) - Tổ chức kết nghĩa giữa các huyện, thị xã, thành phố trực thuộc hai tỉnh và kết nghĩa giữa một số sở, ban, ngành cấp tỉnh.

29. Cột mốc: 29/5/2013

Ý nghĩa: Ngày 29/5/2013, nguồn năng lượng sạch, Dự án Nhà máy điện gió Bạc Liêu chính thức hòa vào lưới điện quốc gia.

Diễn giải: Sau hai năm thi công, ngày 29/5/2013, nguồn điện năng từ 10 trụ tua-bin đầu tiên của Dự án Nhà máy điện gió Bạc Liêu đã chính thức hòa vào lưới điện quốc gia, đánh dấu sự kiện quan trọng: Lần đầu tiên tỉnh Bạc Liêu đóng góp cho quốc gia bằng nguồn năng lượng sạch, tái tạo.

Sau khi hoàn thành giai đoạn 2 (dự kiến vào cuối năm 2014 với 52 tua-bin), khi Dự án chính thức hoạt động với 62 tua-bin, mỗi năm, Điện gió Bạc Liêu sẽ đóng góp vào ngân sách tỉnh hơn 700 tỷ VNĐ, bằng 2/3 tổng thu ngân sách trong cân đối hiện nay của tỉnh.

Đây là dự án kinh tế mang tính động lực của tỉnh và của khu vực ĐBSCL; là Dự án điện gió đầu tiên của ĐBSCL và thứ hai của cả nước, sau Bình Thuận.

30. Nội dung: 6.560 - 12.140 - 577 - 35 - 11

Ý nghĩa: 6.560 - Tổng số thương binh;

12.140 - Tổng số liệt sĩ;

577 - Tổng số Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

35 - Tổng số Anh hùng LLVT nhân dân;

11 - Tổng số tướng lĩnh các LLVT Việt Nam là người Bạc Liêu.

Diễn giải: Bạc Liêu là một trong những vùng căn cứ cách mạng, nhân dân có truyền thống yêu nước; qua hai cuộc kháng chiến có biết bao cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Bạc Liêu đã hy sinh xương máu của mình cho độc lập tự do của dân tộc…

Những con số nêu trên cũng đồng thời là lời nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau, trong việc thể hiện nghĩa cử đối với những người có công với nước.

Yêu vẻ đẹp đất nước

Là kỹ sư ngành công nghiệp điện, công tác tại Tổng công ty Ðiện lực - TKV, từ chỗ xem chụp ảnh như thói quen, một phần công việc, thường chụp ảnh máy móc, thiết bị..., Nguyễn Việt Hoàng Long dần đam mê nhiếp ảnh, muốn giữ lại thật nhiều khoảnh khắc đẹp trong cuộc sống, để chia sẻ rộng rãi đến mọi người.

Nguyễn Ðặng Khã Trâm: Top 50 Hoa hậu Thế giới Việt Nam 2025

Góp mặt trong Top 50 Hoa hậu Thế giới Việt Nam 2025, Nguyễn Ðặng Khã Trâm (quê Cà Mau) không chỉ ghi dấu ấn cá nhân mà còn lan toả hình ảnh sinh viên vùng đất địa đầu cực Nam tự tin, năng động, sẵn sàng hội nhập và cống hiến.

Trải nghiệm cùng nhiếp ảnh

Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Trương Văn Hùng đến với nhiếp ảnh từ tuổi thiếu niên khi chọn nghề chụp ảnh làm nghiệp mưu sinh, sau đó bén duyên ảnh nghệ thuật. Quá trình sáng tác, anh thích chụp thiên nhiên hoang dã, đời sống đồng bào các dân tộc trên mọi miền đất nước, cảnh sắc tươi đẹp của những vùng miền từng đi qua...

Giữ bản sắc cải lương phương Nam

Không chỉ nổi tiếng bởi rừng đước, rừng tràm và con người hào sảng, Cà Mau còn là một trong những cái nôi của đờn ca tài tử, vùng đất thấm đẫm hơi thở cải lương Nam Bộ. Trải qua bao biến thiên, việc dựng lại các vở tuồng cổ cải lương tại Cà Mau hôm nay không đơn thuần là tái hiện một loại hình sân khấu, mà chính là hành trình gìn giữ “hồn cốt” văn hoá đã ăn sâu vào tâm thức người dân phương Nam.

Yêu miền cố đô

Là công chức, công tác tại Ðảng uỷ phường Tây Hoa Lư, tác giả Trường Huy (Nguyễn Xuân Trường) đến với nhiếp ảnh từ tình yêu và tâm huyết với quê hương Ninh Bình. Bằng hình ảnh, anh mong muốn lưu giữ những giá trị văn hoá, lịch sử của vùng đất cố đô.

Rộn ràng đường đua phim Tết 2026

Thị trường phim Việt Nam đang vào giai đoạn sôi động nhất khi mùa phim tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 chuẩn bị khởi chiếu. Những dự án mới nhất vừa được công bố với sự tham gia của các đạo diễn và diễn viên tên tuổi khiến khán giả háo hức chờ đợi.

Hương quê neo giữ ký ức

Trong ẩm thực Nam Bộ, có những món ăn dân dã, nhưng chỉ cần nhắc đến thôi là đủ gợi lên cả một miền ký ức, như món khoai mì hấp nước cốt dừa - món ăn tuổi thơ của rất nhiều người miền Tây.

Viện Phim Việt Nam chiếu phim hướng tới Đại hội Đảng XIV

Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Viện Phim Việt Nam tổ chức Chương trình chiếu phim cách mạng từ ngày 14 - 17/1, tại Hà Nội.

Văn hoá - Thể thao - Du lịch: Động lực cho phát triển bền vững

Chiều 10/1, tại Hội nghị triển khai công tác văn hoá, thể thao và du lịch năm 2026; tổng kết Đề án “Bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Cà Mau giai đoạn 2021-2025”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Vũ Thăng nhấn mạnh: “Văn hoá, Thể thao và Du lịch là sức mạnh nội sinh, là động lực tinh thần quan trọng cho sự phát triển bền vững của tỉnh”.

Lưu giữ khoảnh khắc đẹp

Thích chụp những khoảnh khắc đời thường, phong cảnh... trong quá trình đi du lịch khám phá, Trần Thanh Sang bén duyên với nhiếp ảnh qua kết nối với những tay máy trẻ cùng đam mê trong tỉnh.