Thứ tư, 4-2-26 19:10:46
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

ĐBSCL trước thách thức biến đổi khí hậu: Bài 2: Tìm nước cho vùng sông nước

Báo Cà Mau Có đến 390.000 hộ gia đình thiếu nước sinh hoạt vào thời gian cao điểm, gần 500.000 ha lúa, hoa màu và nuôi thuỷ sản của người dân toàn vùng ÐBSCL bị thiệt hại vì nắng hạn, cho thấy nước ngọt đang là bài toàn cấp bách của vùng đồng bằng này.

Có đến 390.000 hộ gia đình thiếu nước sinh hoạt vào thời gian cao điểm, gần 500.000 ha lúa, hoa màu và nuôi thuỷ sản của người dân toàn vùng ÐBSCL bị thiệt hại vì nắng hạn, cho thấy nước ngọt đang là bài toàn cấp bách của vùng đồng bằng này.

Là vùng đất nằm ở phía cuối của lưu vực sông Mê Kông, do đó, những tác động của BÐKH, các đập thuỷ điện, các công trình chuyển nước và những diễn biến thay đổi khác ở thượng lưu như hiện nay, đã đặt vùng ÐBSCL trước nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

Mùa khô 2015-2016, người dân xã Biển Bạch, huyện Thới Bình phải đổi nước ngọt với giá 45.000 đồng/m3.

Vùng ÐBSCL được thiên nhiên “thiết kế” rất độc đáo với 3 túi trữ nước khổng lồ là Biển Hồ, Ðồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. Vào mùa nước, khi nước sông Mê Kông dâng cao và chảy vào Biển Hồ khiến diện tích tăng lên gấp 5 lần với khoảng 1,5 triệu héc-ta. Về tới Việt Nam, nước tràn vào Ðồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. 3 khối nước này được tạm trữ trong các hồ làm cho dòng nước hiền hoà đi, từ đó ÐBSCL xưa kia không có lũ mà chỉ có mùa nước nổi.

Khi đó ÐBSCL được xem là vùng đất trù phú, đất đai màu mỡ và đa dạng sinh học. Thế nhưng, kể từ khi nhiều công trình đập trên thượng lưu sông Mê Kông được xây dựng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến vùng đồng bằng, đặc biệt là nguồn nước.

Nguy cơ thiếu nước ngày một trầm trọng

Hệ thống thuỷ điện trên dòng Mê Kông được chia ra làm 2 nhóm đập: nhóm 1 gồm các đập dòng chính ở Trung Quốc và các đập chi lưu ở Lào, Thái Lan, đây là các đập có hồ chứa lớn, có khả năng tích nước mùa lũ và xả nước mùa khô để phát điện. Nhóm 2 gồm 11 đập dự kiến trên dòng chính Mê Kông ở hạ lưu vực, với 9 đập ở Lào và 2 đập ở Campuchia. Trong số này thì 2 đập là Xayaburi và Don Sahong ở Lào đã khởi công xây dựng.

Nói về tác động của hệ thống đập và hồ trữ trên lưu vực sông Mê Kông, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia sinh thái học ÐBSCL, phân tích, bình thường, các đập nhóm 1 không có khả năng gây khô hạn cho ÐBSCL vì lượng nước đóng góp từ phần này vào toàn lưu vực chỉ khoảng 16%. Nhưng đối với những năm đặc biệt khô hạn, các đập này có thể gia tăng trữ nước, từ đó sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng khô hạn và xâm mặn ở ÐBSCL. Các đập nhóm 2, dự kiến ở hạ lưu, sẽ tác động nghiêm trọng với ÐBSCL cả về lượng nước, phù sa và thuỷ sản. Bởi lẽ, theo cơ chế vận hành, đây là đập dâng tích và xả nước trong ngày (tích 16 giờ, xả 8 giờ), vì vậy, nước sẽ về ÐBSCL rất muộn, gia tăng khô hạn và xâm mặn vào những năm khô hạn.

Sự thiếu hụt nguồn nước ngọt đối với vùng đồng bằng có thế thấy rõ nhất khi nhìn vào dự án chuyển nước Kong-Loei-Chi-Mun. Công trình này khi đưa vào vận hành sẽ chiết ra khoảng 1.200 m3/s từ lưu lượng dòng chảy 2.500 m3/s của sông Mê Kông. Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân nhận định, lượng nước chảy về đồng bằng là ít hơn, lũ thấp hơn là tất yếu và chuyện khan hiếm nước ngọt đã được dự báo toàn cầu chứ không riêng Việt Nam hay khu vực ÐBSCL.

Không chỉ có các công trình thuỷ điện trên lưu vực sông Mê Kông, Giáo sư Trân còn đưa ra một số nguyên nhân nữa khiến tài nguyên nước, tài nguyên đất ngày một cạn kiệt, đó là mô hình phát triển nông nghiệp hiện nay đang làm nghèo ÐBSCL. Ðặc biệt, việc quản lý Nhà nước đối với nguồn tài nguyên nước còn nhiều chồng chéo, thừa cơ chế nhưng thiếu liên kết, thiếu phối hợp, thiếu một cơ chế phát triển vùng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả đồng bằng. Những chồng chéo đó đã vô tình làm tài nguyên đất, tài nguyên nước ngày một kiệt quệ và vô hiệu hoá giải pháp ứng phó với thách thức thời gian qua.

Trở lại nhận định chính mô hình sản xuất đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên nước, tài nguyên đất, Giáo sư Trân phân tích, chính những đê bao triệt để vùng Tứ Giác Long Xuyên và Ðồng Tháp Mười khiến nước không thể vào được những khu vực này, nghĩa là thời gian qua ta đã “đuổi lũ”, cộng với việc thoát lũ nhanh để sản xuất vụ 3 là lãng phí tài nguyên nước, làm đất giảm độ phì. Giáo sư phân tích thêm, để sản xuất 1 kg gạo cần đến từ 3.000-5.000 lít nước, trong khi giá xuất khẩu gạo trong những năm gần đây liên tục giảm. Như vậy, vấn đề đặt ra là, hiện nay sản xuất có nên chạy theo số lượng để duy trì vị trí là vựa lúa cả nước và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, an ninh lương thực thế giới, hay sản xuất ít lại nhưng tăng chất lượng, giá trị để hạn chế lãng phí tài nguyên nước, tài nguyên đất.

Sinh thái, cuộc sống trước nguy cơ bị xáo trộn

Ðối với lượng phù sa, Thạc sĩ Thiện cho rằng, tất cả hệ thống đập hiện nay và các đập dự kiến xây dựng đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến lượng phù sa về với ÐBSCL. Việc thiếu hụt phù sa đã khiến tình trạng sạt lở bờ biển, cửa sông, lòng sông ngày một dữ dội hơn. Theo số liệu năm 2014 của Uỷ hội Mê Kông quốc tế (MRC), tổng lượng phù sa lơ lửng của sông Mê Kông giảm xuống còn 85 triệu tấn/năm, so với 160 triệu tấn/năm vào năm 1992, do tác động của các đập ở Trung Quốc. Ðồng thời, nếu 11 đập nhóm 2 được hoàn tất thì tải lượng phù sa lơ lửng của sông Mê Kông sẽ chỉ còn 42 triệu tấn/năm, tức chỉ bằng một phần tư trước kia. Khi đó tình trạng sạt lở sẽ trở nên dữ dội hơn.

Ðối với tác động của các đập trên dòng chính sông Mê Kông, theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Trân, không chỉ ảnh hưởng đến lượng nước mà cả chất lượng nước và đa dạng sinh học, thuỷ sản đang bị sụt giảm nghiêm trọng bởi các đập này. Ngoài ra, việc xả nước của các đập lúc triều lên hay xuống sẽ làm thay đổi hoàn toàn chế độ thuỷ văn của vùng đồng bằng. Ngoài ra, với lượng trầm tích về đồng bằng thấp, sẽ dẫn đến những thay đổi về hình thái của lòng sông, cồn bãi, các cửa sông, bờ biển, cũng như lớp phù sa trên bề mặt châu thổ sẽ mỏng đi. Từ đó khiến kinh tế, cuộc sống và kế sinh nhai của cư dân vùng hạ lưu bị xáo trộn.

Giáo sư Trân còn cho rằng, thách thức đang đặt ra còn do chính tác động tại nội địa, do hoạt động khai thác tài nguyên. Việc mất rừng ngập mặn khiến bờ biển mất đệm chắn sóng, giảm khả năng giữ phù sa, giảm hấp thụ CO2; mất rừng tràm làm giảm đa dạng sinh học, chuỗi dinh dưỡng và môi trường vùng ngập nước trở nên nghèo kiệt; khai thác cát dọc sông Tiền, sông Hậu không quản lý được làm trầm trọng hơn sự thâm hụt của cán cân trầm tích; khai thác nước ngầm quá mức góp phần làm mặt đất đồng bằng sụp lún… tất cả các hoạt động khai thác tài nguyên trên đã làm cho việc ứng phó khó khăn hơn.

Trước những phân tích có thể thấy, việc phát triển ÐBSCL hiện nay luôn đặt trong bối cảnh có nhiều yếu tố bất định. Sự khan hiếm nước ngọt và những tình huống cực đoan sẽ xảy ra nhiều hơn, với cường độ mạnh hơn, nước ngọt không còn là “của trời cho” vô hạn… Tuy nhiên, đây chưa hẳn hoàn toàn là thách thức nếu có sự thay đổi nhận thức về đồng bằng.

“Tại châu thổ, ở những vùng mà quá trình biển chiếm ưu thế, chung sống với nước mặn, xem nước mặn và lợ là tài nguyên cần được khai thác, khi đó sẽ biến thách thức mặn thành lợi thế và mở ra những tiềm năng mới cho đồng bằng”, Giáo sư Trân nhận định./.

Bài 3: Biến thách thức thành cơ hội

Bài và ảnh: Nguyễn Phú

Tăng thẩm quyền cho toà án nhân dân cấp tỉnh

Việc tăng thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm cho toà án nhân dân (TAND) cấp tỉnh  theo quy định Luật 85/2025/QH15, sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) được Quốc hội thông qua năm 2025, thể hiện tinh thần cải cách tư pháp hướng về cơ sở một cách mạnh mẽ, nhất là từ khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp.

Phước Long phải phát triển tương xứng với vị thế trung tâm vùng Bắc Quốc lộ 1

Đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, nhấn mạnh, xã Phước Long cần quyết liệt, tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, nhằm phát triển tương xứng với vị thế địa phương được xác định là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Quốc lộ 1 của Cà Mau.

Nâng cao hiệu quả chính quyền địa phương 2 cấp

Năm 2026, tỉnh Cà Mau tiếp tục thực hiện quyết liệt chủ trương tinh giản, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng  tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Tỉnh đẩy mạnh cải cách quản trị nhà nước, tăng cường minh bạch, phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường và trách nhiệm giải trình của các cấp, nhất là người đứng đầu; đồng thời triển khai sắp xếp đơn vị hành chính theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.

Cà Mau đi đầu thực hiện thủ tục hành chính phi địa giới

Với việc công bố 100% thủ tục hành chính (TTHC) thực hiện không phụ thuộc địa giới, Cà Mau trở thành 1 trong 6 địa phương đi đầu cả nước trong cải cách hành chính (CCHC). Ðến hết năm 2025, toàn tỉnh tiếp nhận 5.573 hồ sơ phi địa giới, khẳng định hiệu quả của mô hình giải quyết TTHC thuận tiện, linh hoạt, lấy người dân làm trung tâm phục vụ.

Công an tỉnh đoạt nhiều giải cao Cuộc thi tìm hiểu cải cách hành chính năm 2025

Chiều 30/12, Ban Tổ chức Cuộc thi tìm hiểu cải cách hành chính năm 2025 trên địa bàn tỉnh Cà Mau tổ chức Lễ bế mạc và trao giải cho các cá nhân đạt thành tích xuất sắc.

Hoàn thành Chiến dịch 90 ngày xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai

Sáng 24/12, đồng chí Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì Hội nghị tổng kết Chiến dịch 90 ngày xây dựng, hoàn thiện, làm giàu, làm sạch dữ liệu quốc gia về đất đai trên địa bàn tỉnh Cà Mau.

Ngân hàng Nhà nước đưa thêm 32 thủ tục hành chính lên trực tuyến

Từ ngày 15/12, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam chính thức triển khai thêm 32 thủ tục hành chính (TTHC) được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử, áp dụng đối với tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và cá nhân.

Ðảm bảo pháp luật được thực thi hiệu quả

Năm 2025, đặc biệt sau ngày 1/7, tỉnh Cà Mau tập trung nâng cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong thi hành pháp luật và cải cách hành chính (CCHC). Tỉnh đẩy mạnh nâng cao năng lực cán bộ, ứng dụng công nghệ, cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và tăng cường tính phục vụ, giải trình trong việc tổ chức thi hành pháp luật. Từ đó, đảm bảo pháp luật được thực thi hiệu quả trong đời sống, công tác quản lý nhà nước chặt chẽ.

Xã Lương Thế Trân và xã Phong Thạnh triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết của Trung ương và tỉnh

Ngày 28/11, Tổ công tác số 2 do đồng chí Võ Văn Lực, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh uỷ làm Tổ trưởng đến kiểm tra công tác triển khai quán triệt, tuyên truyền, cụ thể hóa việc thực hiện các nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị tại hai xã Lương Thế Trân và Phong Thạnh. Tham gia Đoàn có đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh.

Phó Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Thanh Thuỷ làm việc với Đảng uỷ Xã Nguyễn Việt Khái

Chiều 24/11, đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ làm trưởng đoàn công tác của Thường trực Tỉnh uỷ đến làm việc với Đảng uỷ Xã Nguyễn Việt Khái.