Thứ bảy, 7-2-26 10:02:26
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Để nghề nuôi tôm phát triển bền vững

Báo Cà Mau

Bài 2: Vì sao nên nỗi?

Bài 1: Báo động đỏ về ô nhiễm môi trường

Khi nói đến tình trạng ô nhiễm môi trường nuôi tôm, người ta hay đổ lỗi cho người nuôi, nhưng lại không nghĩ đến những nguyên nhân cơ bản khác. Vì sao thuốc thú y thủy sản, con giống kém chất lượng vẫn xuất hiện trên thị trường; rồi việc nông dân vẫn cứ lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong nuôi tôm?... Những vấn nạn trên cần được xem xét trên nhiều khía cạnh và cần được nhìn nhận một cách thấu đáo để tìm hướng giải quyết.

Nông dân ngậm đắng, nuốt cay (?!)

Kết luận về công tác thanh tra, kiểm tra của Chi cục Quản lý chất lượng nông - lâm sản và thủy sản (NLS&TS) năm 2011 cho thấy, gần 70% thuốc thú y thủy sản (TYTS) không đạt chất lượng. Chuyện nhiều loại thuốc TYTS chẳng khác nào “nước lã” lâu nay đã trở thành nỗi ám ảnh của người nông dân. Người nuôi tôm cứ phải còng lưng đi vay mượn để rồi mua phải “nước lã” trị bệnh cho tôm? Và đã là “nước lã” thì làm sao trị cho tôm hết bệnh?!

Đối với nhiều hộ nuôi tôm bị thất bại, không có vốn tái đầu tư, thì gần 90% chi phí thức ăn, thuốc TYTS cho con tôm đều lệ thuộc vào các đại lý. Đơn cử như trường hợp của ông T.T - một hộ nuôi tôm ở xã Vĩnh Trạch Đông, TP. Bạc Liêu. Ông T.T bị một đại lý bán thức ăn, thuốc TYTS kém chất lượng trong thời gian dài dẫn đến tôm chết, làm cho gia đình ông gần như phá sản. Khi phát hiện thức ăn, thuốc TYTS không chất lượng, ông T.T đã cầm đơn đi gõ cửa các cơ quan Nhà nước nhờ can thiệp. Song, chỉ 1 ngày sau đó, chính ông lại là người đi năn nỉ xin rút đơn, không thưa kiện nữa. Ông T.T bộc bạch: “Gia đình tôi thiếu nợ tiền thức ăn, thuốc TYTS quá nhiều, nếu kiện thì đại lý sẽ không bán thiếu nữa. Tôm đang lớn, đại lý không đầu tư tiếp thì chỉ có chết. Vả lại, muốn thưa kiện đại lý thì tôi phải trả hết nợ cũ”.

Chất lượng tôm giống luôn là nỗi lo của người nuôi tôm. Trong ảnh: Nông dân xã Vĩnh Trạch Đông (TP. Bạc Liêu) thả tôm giống xuống ao nuôi.

Ngay cả tôm giống cũng thế, bằng hình thức cho nợ tiền con giống, một số cơ sở sản xuất, kinh doanh con giống buộc người nuôi tôm phải mua con giống của mình. Bởi, nếu mua tôm giống ở trại khác thì phải trả nợ cũ. Đây cũng là nguyên nhân vì sao mỗi năm các cơ sở sản xuất tôm giống của tỉnh sản xuất ra từ 8 - 9 tỷ con tôm post, nhưng số tôm được kiểm dịch chưa đến 50%. Như năm 2011, Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh chỉ kiểm dịch được hơn 4 tỷ con tôm post xuất bán (con giống sản xuất trong tỉnh), số còn lại các cơ sở sản xuất, kinh doanh con giống bán trực tiếp cho các hộ nuôi (không qua kiểm dịch hay xét nghiệm). Nếu cộng thêm lượng con giống nhập tỉnh trốn kiểm dịch (như đã phản ánh), thì số tôm giống không chất lượng hiện hữu trong tỉnh sẽ trên 5 - 7 tỷ con. Đó là chưa nói đến chuyện nhập con giống giá rẻ nhiễm bệnh từ các tỉnh khác để bán cho các hộ nuôi tôm còn thiếu nợ theo kiểu “triệt buộc”.

Qua đó cho thấy, chỉ vì thiếu nợ mà các hộ nuôi tôm trở thành nơi tiêu thụ hàng giả, hàng kém chất lượng. Con giống nhiễm bệnh thì phải xử lý thuốc, còn thuốc kém chất lượng thì phải sử dụng nhiều và có hàm lượng cao hơn. Đó là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng lạm dụng thuốc gây ô nhiễm môi trường.

Quản không nổi!

Chuyện thức ăn, thuốc TYTS giả, con giống không đảm bảo chất lượng đã được các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh nhiều lần, và hễ ngành quản lý kiểm tra đến đâu là vi phạm đến đó. Thế nhưng, vấn nạn này vẫn chưa được xử lý triệt để và dường như ngành quản lý phải “bó tay”?!

Hiện nay, cả tỉnh có trên 390 cơ sở sản xuất, kinh doanh tôm giống, nhưng chỉ có 20% cơ sở đạt chuẩn về chất lượng, quy mô và nguồn tôm giống bố mẹ được kiểm dịch sạch bệnh. Riêng 80% cơ sở sản xuất còn lại tuy được đầu tư khá hơn so với trước đây, nhưng chủ yếu có quy mô vừa, sản xuất nhỏ lẻ dưới hình thức hộ gia đình, tôm bố mẹ không rõ nguồn gốc và không được kiểm dịch. Đặc biệt, có nhiều trại giống núp bóng danh nghĩa cơ sở sản xuất, nhưng chủ yếu nhập con giống trôi nổi từ các tỉnh để kinh doanh.

Việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong nuôi tôm làm ảnh hưởng đến nguồn tôm nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu (ảnh mang tính minh họa). Ảnh: L.D

Theo Chi cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh, công suất thiết kế của hơn 390 cơ sở trên mỗi năm phải sản xuất ra trên 20 tỷ con tôm post. Vậy, tại sao chỉ sản xuất từ 8 - 9 tỷ con tôm post/năm? Lý do rất đơn giản: vì nhập con giống bên ngoài giá rẻ hơn, khỏi cần đăng ký kiểm dịch, và có thể vận chuyển vào tận vuông tôm để giao cho nông dân. Điều đáng quan tâm là ngành chủ quản cũng phải thừa nhận rằng, phương pháp kiểm dịch chủ yếu hiện nay chỉ dựa vào các chỉ tiêu cảm quan, phát hiện bệnh bên ngoài, nên không thể tầm soát được các loại bệnh nguy hiểm khác.

Chính lỗ hổng trong quản lý là điều kiện để nạn tôm giống kém chất lượng xảy ra nhiều năm qua. Bạc Liêu cứ phải nhập tôm từ các tỉnh, và người nông dân cứ phải chi tiền triệu cho việc xét nghiệm đến việc mua thuốc xử lý tôm bệnh.

Cấm không xong!

Một vấn đề mâu thuẫn trong quản lý chất lượng vật tư thủy sản, con giống là khi quản không nổi thì dùng biện pháp cấm?! Thay vì xử lý nghiêm các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh gian lận, làm hàng giả, hàng kém chất lượng, hoặc cấm lưu hành, kinh doanh hóa chất độc hại không rõ nguồn gốc… thì ngành quản lý quay lại cấm nông dân. Như việc cấm sử dụng các loại thuốc BVTV độc hại và các loại thuốc thuộc nhóm Pyrethroid, Cyperrmethrin trong xử lý môi trường ao nuôi, nhưng ngành chức năng lại không đưa ra được những loại thuốc khác có giá thành tương đương, do vậy, nông dân vẫn phải lựa chọn thuốc BVTV để xử lý. Dùng thuốc BVTV hay Cyperrmethrin trong xử lý ao nuôi tôm, nông dân chỉ tốn từ 200 - 300 ngàn đồng/ha. Ngược lại, nếu dùng các loại thuốc khác theo quy định như Saponin hay Chlorice thì phải mất từ 5 - 6 triệu đồng/ha, nhưng lại không hiệu quả bằng các loại thuốc BVTV rẻ tiền khác. Vả lại, nếu sử dụng các hóa chất xử lý ao nuôi theo quy định thì cũng chưa chắc mua được hàng đảm bảo chất lượng.

Do lạm dụng quá nhiều thuốc BVTV và thuốc kháng sinh, nên nguồn tôm nguyên liệu không đảm bảo chất lượng là điều khó tránh khỏi. Ông Trần Quốc Hội, Chi cục phó Chi cục Quản lý chất lượng NLS&TS tỉnh, cho biết: “Việc xử lý tôm nhiễm kháng sinh hiện nay rất khó, vì đó là tài sản của người nông dân. Một ao tôm đôi lúc trị giá hàng trăm triệu đồng, nếu phải xử lý hay tiêu hủy thì lấy gì để hỗ trợ thiệt hại cho họ. Bởi, quy định cấm thì có, nhưng lại không có chính sách để hỗ trợ thỏa đáng cho nông dân”.

Những bất cập trong việc “quản không nổi” và “cấm không xong” này đã để lại những hậu quả nặng nề mang tính dây chuyền, làm phá vỡ cân bằng sinh thái, sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm. Đồng thời tạo ra nguy cơ phá sản cho nhiều nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu.

Bài 3: Những hệ lụy

Lư Dũng

Phủ xanh bờ bao vuông tôm, thu quả ngọt

Giữa vùng đất mặn quanh năm gắn với sự sinh trưởng của con tôm, con cua, người dân xã Tam Giang tận dụng những khoảng đất trống quanh nhà để trồng dưa hấu, không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn mở ra hướng sản xuất linh hoạt, hiệu quả. Những ruộng dưa xanh mướt đang hứa hẹn một vụ mùa bội thu khi Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề.

“Vị ngọt” tôm - lúa hữu cơ

Khi tiết trời se lạnh, những cánh đồng lúa vừa gặt xong nhường chỗ cho con nước mặn tràn về, cũng là lúc tôm bắt đầu lớn lên trong lớp phù sa mặn - ngọt giao hoà. Ở Cà Mau, vòng quay mùa vụ không chỉ tạo nên nhịp sống đặc trưng mà còn hình thành mô hình sản xuất bền vững đang hoà nhịp cùng xu thế phát triển xanh của cả nước: tôm - lúa hữu cơ.

Vĩnh Lộc: Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại

Đó là chỉ đạo của đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, đối với định hướng phát triển nông nghiệp của xã Vĩnh Lộc. Là xã thuần nông, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến thất thường, một bộ phận nông dân còn giữ tư duy sản xuất cũ và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Xuân về trên những cánh đồng

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón Tết ở Xã Nguyễn Phích rộn ràng, phấn khởi hơn mọi năm. Trên những cánh đồng lúa - tôm trải dài, niềm vui hiện rõ trên gương mặt người dân khi năm nay vừa trúng tôm càng xanh, vừa trúng lúa. Sau một năm cần mẫn bám đất, bám rừng, bà con có thêm điều kiện đón một cái Tết đủ đầy, ấm áp.

Ðặc sản OCOP vào vụ Tết

Những ngày giáp tết Nguyên đán, tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP bước vào cao điểm nhằm kịp cung ứng hàng hoá cho thị trường Tết. Bên cạnh tăng sản lượng, các cơ sở OCOP còn chú trọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu, từng bước đưa nông sản địa phương khẳng định vị thế trên thị trường.

Làng nghề ép chuối khô vào mùa Tết

Những ngày cận Tết tại xã Khánh Hưng, không khí lao động tại các hộ làm nghề ép chuối khô tất bật hơn thường ngày để kịp cung ứng cho thị trường Tết Bính Ngọ 2026. Thương lái bắt đầu về tận nơi thu mua, vận chuyển chuối ép khô lên các tỉnh vùng trên tiêu thụ.

Ðặc sản khô Tết lên sàn

Những ngày này, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh trong tỉnh tất bật vào vụ sản xuất các mặt hàng khô. Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, người dân mạnh dạn tận dụng công nghệ, đưa đặc sản lên sàn thương mại điện tử, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ra mắt phần mềm Nông nghiệp

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị công bố chính thức Phần mềm Nông nghiệp Cà Mau và Cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh. Dự hội nghị có lãnh đạo sở, các đơn vị trực thuộc và đại diện lãnh đạo các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Ðòn bẩy nâng tầm đặc sản Cà Mau

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản địa phương, bảo hộ sở hữu trí tuệ đang trở thành “chìa khoá” quan trọng, giúp các đặc sản Cà Mau khẳng định uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng, gìn giữ và phát huy tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc trưng không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.

Thay đổi nhỏ, giá trị lớn

Những thay đổi nhỏ trong canh tác, từ việc điều chỉnh quy trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến cách thức tổ chức sản xuất... đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân, với thu nhập tăng thêm từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi năm.