Thứ bảy, 7-2-26 10:05:12
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản vùng Nam quốc lộ 1A: Những bất cập cần được tháo gỡ

Báo Cà Mau

Năm 2011, tổng giá trị sản xuất của ngành Nông nghiệp Bạc Liêu đạt hơn 11.000 tỷ đồng, chiếm 51% GDP của tỉnh. Trong đó, khai thác và nuôi trồng thủy sản (NTTS) chiếm 70% giá trị. Điều này cho thấy, tiềm năng và thế mạnh kinh tế thủy sản của tỉnh rất lớn và tập trung nhiều ở vùng Nam Quốc lộ (QL) 1A. Tuy nhiên, hệ thống thủy lợi cho NTTS ở khu vực này chưa được đầu tư đúng mức. Và cần làm gì để đạt được mục tiêu diện tích nuôi tôm công nghiệp 15.000ha vào năm 2015 trong điều kiện hạ tầng vùng nuôi bộc lộ rất nhiều bất cập, khiếm khuyết đang trở thành vấn đề đáng bàn.

Bài 1: Tình hình mới, quy hoạch cũ

Hệ thống thủy lợi phục vụ NTTS ở vùng Nam QL1A của tỉnh hiện nay là dành cho trồng trọt được quy hoạch từ thời tỉnh Minh Hải (cũ). Từ khi tái lập tỉnh đến nay, Bạc Liêu chưa có quy hoạch thủy lợi nào được duyệt dành cho con tôm.

Thủy sản cũng cần “nhất nước”

Vùng Nam QL1A bao gồm một phần của huyện Vĩnh Lợi, TP. Bạc Liêu, huyện Hòa Bình, Giá Rai và toàn bộ huyện Đông Hải với tổng diện tích hơn 100.000ha, nằm về hướng biển. Trong đó, đất chuyên NTTS khoảng 63.000ha và đất NTTS kết hợp làm muối, trồng rừng, nuôi tôm quảng canh… hơn 3.200ha. Ở đây còn gọi là “thủ phủ” của mô hình nuôi tôm công nghiệp nhưng đang tồn tại nhiều bất cập về hạ tầng vùng nuôi.

Vụ tôm năm 2012 đã bắt đầu kể từ tháng 3/2012. Không phải chỉ có cây lúa hay rau màu… mà nguồn nước phục vụ NTTS cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự sống còn của con tôm.

Theo cơ quan chuyên môn, nguồn nước cho NTTS (chủ yếu là tôm sú) yêu cầu về chất lượng rất nghiêm ngặt. Đó là nước không bị ô nhiễm, độ đục thấp, hàm lượng ô xy hòa tan trong nước cao, hàm lượng chất hữu cơ trong nước thấp, hàm lượng các chất độc hại trong nước thấp hoặc không có thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, H2S… Qua các kết quả khảo sát, đo đạc ở vùng Nam QL1A cho thấy, những vùng nuôi tôm tập trung dễ bị ô nhiễm nguồn nước do nước thải từ ao nuôi chưa xử lý đưa ra môi trường chứa hàm lượng chất hữu cơ cao, chứa các mầm bệnh tôm, chất kháng sinh. Hàm lượng vi sinh đo được trong nước còn khá cao, đặc biệt vào giai đoạn mùa khô và đầu mùa mưa trên hệ thống kênh, rạch trong vùng.

Để sử dụng nguồn nước cho NTTS đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững, các cơ quan quản lý thủy sản, quản lý thủy lợi cần có các giải pháp quản lý, giải pháp kỹ thuật, giải pháp giáo dục cộng đồng… làm cơ sở để hạn chế sự ô nhiễm nguồn nước trên diện rộng, bảo vệ chất lượng môi trường nước.

Kênh lấy nước cho NTTS thuộc địa bàn xã Vĩnh Thịnh (huyện Hòa Bình) bị bồi lắng nghiêm trọng.

Tôm khỏe, tôm bệnh “tắm chung”

Theo Sở NN&PTNT, năm 2011 là năm buồn nhiều hơn vui của những người sống bằng nghề nuôi tôm sú. Vụ tôm 2011, Bạc Liêu có gần 50% diện tích nuôi tôm sú thất bại, thất thu hàng trăm tỷ đồng. Ông Phạm Hoàng Giang, Chi cục trưởng Chi cục NTTS tỉnh, đánh giá: “Tôm chết là do nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân dẫn đến lây lan, phát tán dịch bệnh là do nguồn nước dưới kênh bị ô nhiễm. Và hậu quả của chuyện tôm khỏe, tôm bệnh “tắm chung” dòng nước làm cho dịch bệnh lây lan rất khó kiểm soát”. Bàn về vấn đề này, ông Giang nói thêm, ở vùng Nam QL1A hiện nay, một con kênh cấp nước, xả nước NTTS xài chung 3 - 4 ấp hoặc 2 - 3 xã là chuyện bình thường. Ngay cả những vùng quy hoạch chuyên canh tôm công nghiệp, bán công nghiệp của tỉnh như: Long Điền Đông (huyện Đông Hải); Vĩnh Thịnh, Vĩnh Hậu (huyện Hòa Bình ) và Vĩnh Trạch Đông (TP. Bạc Liêu) cũng chưa có đường cấp nước và lấy nước riêng. Quy định là khi có dịch bệnh xảy ra, người nuôi tôm phải xử lý triệt để mầm bệnh trước khi thải ra môi trường. Thế nhưng, những vùng nuôi tôm quảng canh hay tôm - lúa chẳng ai quan tâm thực hiện điều này. Và hệ lụy của việc làm thiếu ý thức ấy cộng với những bất cập của hệ thống thủy lợi đã làm cho dịch bệnh lây lan rất nhanh.

Ông Trần Văn Hoàng, ngụ ấp Rạch Thăng, xã Vĩnh Trạch, TP. Bạc Liêu, bức xúc: “Người nuôi tôm chúng tôi rất cần một nguồn nước sạch, không dịch bệnh. Việc xài chung một nguồn nước như những năm qua đã khiến cho người nuôi tôm gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, nhiều người đã phải bỏ xứ đi nơi khác làm ăn, chứ cứ nuôi kiểu này thì chết chùm cả đám”.

Theo ông Lai Thanh Ẩn, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh: “Kinh phí tỉnh dành cho thủy lợi, thủy nông nội đồng hàng năm không đáng kể (hơn 100 tỷ đồng cho cả vùng Nam và Bắc của tỉnh). Vì vậy, nó chỉ đủ đầu tư cho việc nạo vét. Và trong khi nạo vét chưa xong một vòng thì ở điểm đầu đã bị bồi lắng như cũ. Cứ thế mà kinh phí đầu tư xây dựng công trình thủy lợi mới không còn, mà chủ yếu dựa vào nguồn vốn tài trợ nước ngoài, vốn trái phiếu Chính phủ và ngân sách Trung ương, nhưng rất hạn chế”.

Điều này cho thấy, mục tiêu về diện tích và sản lượng tôm mà tỉnh mong muốn đang tỷ lệ nghịch với sự đáp ứng về hạ tầng vùng nuôi. Mức độ thâm canh con tôm ngày càng cao, ô nhiễm môi trường gay gắt… là những gì đang diễn ra ở vùng Nam QL1A hiện nay và đẩy nghề nuôi tôm rơi vào một thách thức lớn.

Nạo vét kênh thủy lợi phục vụ NTTS ở vùng Nam QL1A. Ảnh: T.Đ

Bất cập… kéo dài

Theo đánh giá của cơ quan quản lý thủy lợi, nhờ nằm tiếp giáp với biển nên hoạt động NTTS ở vùng Nam QL1A có nhiều thuận lợi. Đó là nguồn nước mặn dồi dào, việc lấy nước và xả nước ra biển rất nhanh. Song, bất lợi do thiên nhiên mang lại cũng không nhỏ: hệ thống kênh, rạch bị phù sa bồi lắng quá nhanh, cứ khoảng 3 năm là phải nạo vét một lần. Nguyên nhân, do 24 cửa sông, kênh, rạch nằm dọc đê biển của tỉnh đều thông trực tiếp ra biển mà không được ngăn bởi hệ thống cống để hạn chế phù sa. Bên cạnh đó, hệ thống thủy nông nội đồng ở vùng này hiện chỉ đạt từ 65 - 70%, chưa đáp ứng yêu cầu cấp - thoát nước, chưa đồng bộ với hệ thống kênh cấp 1, cấp 2. Đáng chú ý là từ trước đến nay, ở “thủ phủ” tôm công nghiệp này chưa bao giờ có một hệ thống kênh riêng biệt để cấp và thoát nước dành cho NTTS.

Mục tiêu của tỉnh đến năm 2015, tổng sản lượng tôm sú thu được từ các hoạt động nuôi trồng khoảng 87.700 tấn. Trong đó, thu hoạch từ mô hình nuôi công nghiệp - bán công nghiệp (CN-BCN) đạt khoảng 52.500 tấn trên diện tích thả nuôi 15.000ha. Tuy nhiên, vụ nuôi năm 2012, diện tích nuôi tôm CN-BCN mà ngành Nông nghiệp phấn đấu chỉ 12.000ha. Nguyên nhân là do hạ tầng vùng nuôi (điện, đường giao thông và thủy lợi) không đảm bảo.

Hệ thống thủy lợi của tỉnh được quy hoạch từ hồi thập niên 90 của thế kỷ trước. Ông Lai Thanh Ẩn, giải thích: “Khi ấy, quy hoạch và thiết kế thủy lợi chỉ tính tới chuyện phục vụ nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa (ngăn mặn, tiêu úng, xổ phèn, giữ ngọt, dẫn ngọt) nên chỉ quan tâm đào các kênh trục (tuyến kênh chính). Do đó, khi chuyển sang NTTS, đặc biệt với mức độ thâm canh ngày càng cao, khiến nó không còn phù hợp với nhu cầu thực tế. Với hệ thống thủy lợi hiện có, rất khó để quản lý tốt được môi trường theo yêu cầu sản xuất”. Theo đánh giá của Sở NN&PTNT, môi trường nước đang có dấu hiệu xấu đi do ý thức cộng đồng chưa cao, nguồn nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt), thủy sản, công nghiệp, dân sinh… thải trực tiếp xuống kênh, rạch quá nhiều. Từ đó, sau 3 năm nuôi tôm công nghiệp - bán công nghiệp, một số diện tích ở khu vực ven biển Đông đã có dấu hiệu “sa mạc hóa”.

Sự không đồng bộ giữa thực tiễn phát sinh với quy hoạch đang trở thành rào cản của người nuôi tôm. Quy hoạch quá cũ và chậm thay đổi, bổ sung khiến cho thủy lợi cũng không thể ngăn chặn hoặc hạn chế được tác động do biến đổi khí hậu.

Tỉnh đang có hàng chục dự án xây mới các công trình thủy lợi đa mục tiêu phục vụ NTTS như: đê, cống, đập, âu thuyền, phát triển hệ thống kênh dẫn nước… nhưng tiến độ triển khai rất chậm, thậm chí, nhiều dự án vẫn còn nằm trên giấy. Với thực trạng này, những khó khăn, bất cập về thủy lợi cho NTTS ở vùng Nam QL1A nói riêng và toàn tỉnh nói chung chưa biết bao giờ mới được tháo gỡ.

Tấn Đạt

Kỳ tới: Khó khăn, bất cập do đâu?

Phủ xanh bờ bao vuông tôm, thu quả ngọt

Giữa vùng đất mặn quanh năm gắn với sự sinh trưởng của con tôm, con cua, người dân xã Tam Giang tận dụng những khoảng đất trống quanh nhà để trồng dưa hấu, không chỉ giúp tăng thu nhập mà còn mở ra hướng sản xuất linh hoạt, hiệu quả. Những ruộng dưa xanh mướt đang hứa hẹn một vụ mùa bội thu khi Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 đã cận kề.

“Vị ngọt” tôm - lúa hữu cơ

Khi tiết trời se lạnh, những cánh đồng lúa vừa gặt xong nhường chỗ cho con nước mặn tràn về, cũng là lúc tôm bắt đầu lớn lên trong lớp phù sa mặn - ngọt giao hoà. Ở Cà Mau, vòng quay mùa vụ không chỉ tạo nên nhịp sống đặc trưng mà còn hình thành mô hình sản xuất bền vững đang hoà nhịp cùng xu thế phát triển xanh của cả nước: tôm - lúa hữu cơ.

Vĩnh Lộc: Phát triển nông nghiệp xanh, hiện đại

Đó là chỉ đạo của đồng chí Hồ Thanh Thuỷ, Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh Cà Mau, đối với định hướng phát triển nông nghiệp của xã Vĩnh Lộc. Là xã thuần nông, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của địa phương vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do thời tiết diễn biến thất thường, một bộ phận nông dân còn giữ tư duy sản xuất cũ và hạ tầng giao thông chưa đáp ứng nhu cầu phát triển.

Xuân về trên những cánh đồng

Những ngày này, không khí chuẩn bị đón Tết ở Xã Nguyễn Phích rộn ràng, phấn khởi hơn mọi năm. Trên những cánh đồng lúa - tôm trải dài, niềm vui hiện rõ trên gương mặt người dân khi năm nay vừa trúng tôm càng xanh, vừa trúng lúa. Sau một năm cần mẫn bám đất, bám rừng, bà con có thêm điều kiện đón một cái Tết đủ đầy, ấm áp.

Ðặc sản OCOP vào vụ Tết

Những ngày giáp tết Nguyên đán, tại các làng nghề truyền thống, cơ sở sản xuất sản phẩm OCOP bước vào cao điểm nhằm kịp cung ứng hàng hoá cho thị trường Tết. Bên cạnh tăng sản lượng, các cơ sở OCOP còn chú trọng nâng cao chất lượng, hoàn thiện mẫu mã, xây dựng thương hiệu, từng bước đưa nông sản địa phương khẳng định vị thế trên thị trường.

Làng nghề ép chuối khô vào mùa Tết

Những ngày cận Tết tại xã Khánh Hưng, không khí lao động tại các hộ làm nghề ép chuối khô tất bật hơn thường ngày để kịp cung ứng cho thị trường Tết Bính Ngọ 2026. Thương lái bắt đầu về tận nơi thu mua, vận chuyển chuối ép khô lên các tỉnh vùng trên tiêu thụ.

Ðặc sản khô Tết lên sàn

Những ngày này, các cơ sở sản xuất, hộ kinh doanh trong tỉnh tất bật vào vụ sản xuất các mặt hàng khô. Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, người dân mạnh dạn tận dụng công nghệ, đưa đặc sản lên sàn thương mại điện tử, qua đó mở rộng thị trường tiêu thụ.

Ra mắt phần mềm Nông nghiệp

Ngày 23/1, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội nghị công bố chính thức Phần mềm Nông nghiệp Cà Mau và Cổng thông tin dữ liệu tài nguyên và môi trường tỉnh. Dự hội nghị có lãnh đạo sở, các đơn vị trực thuộc và đại diện lãnh đạo các xã, phường trên địa bàn tỉnh.

Ðòn bẩy nâng tầm đặc sản Cà Mau

Trong hành trình nâng cao giá trị nông sản địa phương, bảo hộ sở hữu trí tuệ đang trở thành “chìa khoá” quan trọng, giúp các đặc sản Cà Mau khẳng định uy tín và năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, việc xây dựng, gìn giữ và phát huy tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc trưng không chỉ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sản xuất, mà còn mở ra hướng phát triển bền vững cho nông nghiệp địa phương.

Thay đổi nhỏ, giá trị lớn

Những thay đổi nhỏ trong canh tác, từ việc điều chỉnh quy trình sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi đến cách thức tổ chức sản xuất... đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân, với thu nhập tăng thêm từ vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng mỗi năm.