Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Kỷ niệm 68 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2015): Có một tượng đài Mẹ trong các ca khúc cách mạng

Báo Cà Mau Đã 68 năm trôi qua, kể từ ngày 27/7/1947, hằng năm, cứ đến ngày này, những nén tâm nhang của bao thế hệ người Việt lại được thắp lên thành kính khắp các nghĩa trang, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ.

Đã 68 năm trôi qua, kể từ ngày 27/7/1947, hằng năm, cứ đến ngày này, những nén tâm nhang của bao thế hệ người Việt lại được thắp lên thành kính khắp các nghĩa trang, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ. Truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta lại được cụ thể hoá bằng những hành động ý nghĩa đối với những người lính mang thương tích trở về sau chiến tranh. Và trong ngày lễ kỷ niệm đó, có một tượng đài vĩ đại không thể không nhắc tới đó là Mẹ - một phần của lịch sử bi tráng, đau thương; làm nên bản trường ca bất tử, đầy kiêu hãnh tự hào, minh chứng cho sự trường tồn, bất diệt của dân tộc.

Gần 20 năm sau ngày đất nước thống nhất, năm 1994, Nhà nước ra pháp lệnh phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Và trong suốt dặm dài lịch sử đấu tranh của lớp lớp cha anh, hình tượng Mẹ đã tạc vào dáng đứng của Tổ quốc, đã đi vào các tác phẩm văn học - nghệ thuật một cách tự nhiên, dung dị mà sinh động, sáng ngời.

MH: MT

Mỗi bài thơ, mỗi bản nhạc viết về Mẹ đều đẹp, đều sang trọng, chất phác và đầy day dứt. Ðể chỉ dẫu một lần nghe qua, không ai có thể giấu được xúc động, bồi hồi.

Ðó là chân dung một người mẹ cụ thể, đằng đẵng chờ chồng ròng rã suốt 20 năm: “Cả cuộc đời cha đi bộ đội/ Quà về cho mẹ là mái tóc pha sương/ Và những vết thương trên ngực cha/ Khi trở gió lại đau nhức nhối…” để nhận về món quà hội ngộ: “Chiếc ba lô gió sương đã gội/ Gia tài cha tặng mẹ chỉ thế thôi…”. Trong suốt những tháng năm chiến tranh biền biệt ấy, riêng mẹ phải chịu bao gian khổ, thiệt thòi mà không một lời than vãn: “Hai mươi năm ngày mẹ cưới/ Ðến hôm nay sống đời vợ chồng/ Hai mươi năm… mẹ nuôi con một mình”. Vậy nên, mẹ hiển nhiên là một biểu tượng cao quý để mỗi đứa con ngợi ca và muốn tìm về để nương náu sau những ưu phiền, va vấp, là một bờ vai rộng lớn, bao dung cho con dựa vào: “Con chỉ tìm về với mẹ thôi/ Trong lòng mẹ bát ngát biển khơi…” (Mẹ - Phan Long, phổ thơ Ðoàn Ngọc Thu).

Sẽ không có gì ngạc nhiên khi các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ dành cho Mẹ nhiều tình cảm đến vậy, và khắc hoạ tạc thành một chân dung Mẹ nhiều mất mát, hy sinh mà đẹp lộng lẫy đến như thế. Bởi những cuộc trường chinh của dân tộc đau thương này đã lấy đi của mẹ biết bao điều quý giá mà không gì bù đắp nổi: “Nước mắt mẹ không còn/Vì khóc những đứa con/ Lần lượt ra đi, đi mãi mãi…” và dẫu chiến tranh đã lùi xa, “Vết thương trên thịt da đã lành theo năm tháng/ Nhưng vết thương lòng, mẹ vẫn còn nặng mang…”. Chỉ với “Người mẹ của tôi”, Nhạc sĩ Xuân Hồng đã nói thay triệu triệu người con đất Việt niềm thương cảm lớn lao cùng lòng biết ơn vô hạn những người mẹ đã rứt ruột hiến dâng những đứa con cho Tổ quốc mình. Ðể từ đó, các thế hệ lớn lên trong hoà bình biết trải lòng mình ra san sẻ, tri ân, biết sống có ích hơn, xứng đáng hơn với những hy sinh của mẹ: “Mẹ Việt Nam ơi, mẹ Việt Nam ơi/ Cho con xin chia sớt nỗi buồn/ Cho con xin xẻ đôi bát cơm/ Cho con hôn đôi mắt mỏi mòn/ Cho con soi lại bóng hình con…/ Mẹ Việt Nam ơi, mẹ Việt Nam ơi/Xin cám ơn người, người mẹ của tôi”.

Mẹ nhân từ, Mẹ bao dung và giàu đức hy sinh, nhận về mình hết thảy những gian nan, thiệt thòi để thành huyền thoại, những huyền thoại sống đáng ngưỡng vọng: “Mẹ về đứng dưới mưa/ Che đàn con nằm ngủ/ Canh từng bước chân thù/ Mẹ ngồi dưới cơn mưa…”. Mẹ trong “Huyền thoại mẹ” của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hoá thân thành một biểu tượng chung: mẹ Tổ quốc. Ðó là người mẹ của hàng ngàn đứa con chiến sĩ, đầy quả cảm, can trường, mưu lược: “Mẹ lội qua con suối/ Dưới mưa bom không ngại/ Mẹ nhẹ nhàng đưa lối/ Tiễn con qua núi đồi”, là bóng mát cho lớp lớp đàn con cách mạng nương nhờ, để chiến đấu và tìm về như một chốn bình an: “Mẹ là nước chứa chan/ Trôi dùm con phiền muộn/ Cho đời mãi trong lành/Mẹ chìm dưới gian nan”.

Lật lại từng trang sử bi hùng của dân tộc, đâu đâu cũng thấp thoáng dáng dấp Mẹ. Mẹ đã đồng hành cùng dân tộc trên muôn cuộc trường chinh. Trong số đó, có những người mẹ “may mắn”, được đón những đứa con trở về dù chỉ là nắm tro cốt, chiếc ba lô, cuốn nhật ký. Có những người mẹ phải gánh chịu tột cùng đau thương khi dâng tặng đứa con mình cho Tổ quốc mà vĩnh viễn không nhìn thấy hình hài, để rồi một đời khắc khoải nhớ mong, hy vọng, đến khi nhắm mắt vẫn còn đau đáu...

Chúng ta đã có những tượng đài của Mẹ Thứ, Mẹ Suốt như những minh chứng sống động của lịch sử, là đại diện tiêu biểu cho hàng vạn người Mẹ Việt Nam anh hùng. Tổ quốc sẽ đời đời khắc ghi công ơn trời biển của Mẹ, dẫu những việc làm và hành động của thế hệ hôm nay chưa thể đền đáp xứng đáng với những đóng góp và hy sinh của Người. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, lòng thành kính sẽ mãi mãi tròn đầy, lòng biết ơn sẽ luôn khắc vào tâm khảm đến mãi muôn sau của triệu triệu người con đất Việt.

Khúc tráng ca tháng Bảy hào hùng, đầy tự hào, kiêu hãnh hằng năm vẫn đều đặn được cất lên đã lay động đến tận cùng cảm xúc của thế hệ hôm nay: “Hát về những người mẹ Việt Nam, hát mừng những người mẹ anh hùng/ Ðời dâng hiến giống nòi, mẹ sống giữa gian lao/ Vì đất nước hy sinh cả cuộc đời.../ Nhìn mái tóc mẹ bạc phơ, và ánh mắt mẹ như mơ/ Là biết mấy chờ mong mỏi mòn/ Từng đứa con ra đi không bao giờ trở lại…”.

Bằng xúc cảm chân thành của một người lính, Nhạc sĩ An Thuyên với ca khúc “Hát về Mẹ Việt Nam anh hùng” đã khái quát được một cách đủ đầy, trọn vẹn một chân dung Mẹ Việt Nam, sừng sững bao la như một tượng đài vĩ đại nhất của dân tộc: “Mẹ đã có ngàn đứa con, Mẹ đã có cả nước non/ Mẹ mãi mãi cùng con trên đường dài/ Núi sông hôm nay biết ơn người mẹ hiền…”, để muôn đời mẹ luôn gần gũi, chở che chúng con: “Thoả những nỗi sầu đau tháng ngày/ Và chúng con hôm nay như ùa vào lòng mẹ/ Lại nghe hát ru con bên nôi, Mẹ lại kể câu chuyện ngày xưa/ Mẹ đẹp mãi, Mẹ hát cùng con…”.

 Khi xem những thước phim tài liệu về Bà mẹ Việt Nam anh hùng những ngày tháng Bảy, tôi ít khi ngăn được nước mắt. Ở đó, hình ảnh những người mẹ hồn hậu, chất phác lại hiện ra: nhỏ bé, gầy guộc, tóc bạc, lưng còng, mắt mờ vẫn ôm chặt trong lòng và run run lau di ảnh hay tấm bằng Tổ quốc ghi công của người con liệt sĩ.

Sẽ thật khó để liệt kê hết các tác phẩm âm nhạc viết về Mẹ, ngợi ca Mẹ trong khuôn khổ một bài viết. Cũng như thật khó để kể hết công ơn, đức hy sinh vô bờ bến của hàng vạn Bà mẹ Việt Nam anh hùng trên mảnh đất đau thương nhưng quật khởi này. Vậy nên, người viết xin lại được mượn lời của Nhạc sĩ An Thuyên để khép lại thông điệp tháng Bảy như một lời tri ân thành kính nhất:“Trọn tình nước non, Mẹ Việt Nam anh hùng/ Tự hào chúng con có Mẹ Việt Nam anh hùng”./.

Ngô Thế Lâm

80 năm Trận Giồng Bốm - Vọng mãi khúc tráng ca

Sáng 30/4, tại Di tích Lịch sử quốc gia Địa điểm trận Giồng Bốm (xã Phong Thạnh), UBND tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (15/4/1946-15/4/2026).

Sáng ngời tinh thần “cứu nước là cứu đạo”

Cách nay tròn 80 năm, tại xã Phong Thạnh đã diễn ra trận chiến ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược. Toà thánh Ngọc Minh bị tàn phá nặng nề, 137 chiến sĩ “áo trắng” anh dũng hy sinh. Dù không giành thắng lợi về quân sự, trận Giồng Bốm đã tạo tiếng vang khắp Nam Bộ, giáng đòn mạnh vào âm mưu của kẻ thù.

Trọn nghĩa tri ân

Thời gian qua, công tác “đền ơn đáp nghĩa” tại xã Hưng Mỹ luôn được quan tâm thực hiện, thông qua những việc làm thiết thực và giàu tính nhân văn. Từ những phần quà tri ân, những mái nhà tình nghĩa đến sự sẻ chia trong đời sống hàng ngày, tất cả góp phần chăm lo tốt hơn cho các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, tô thắm đạo lý "uống nước nhớ nguồn" trong cộng đồng.

Sức sống cách mạng qua những địa danh anh dũng

Ði qua những năm tháng đạn bom, cùng với xương máu, hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ, những địa danh như: Chống Mỹ, Anh Dũng, Quyết Chiến, Quyết Thắng... đã gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn nửa thế kỷ thống nhất, những tên gọi này vẫn vang vọng hào khí cha ông, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp truyền thống cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Người lưu giữ lịch sử

Với nhiều người dân Cà Mau, ông Sáu Sơn là gương mặt quen thuộc, như “người kể chuyện lịch sử” - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Kể chuyện lịch sử tại Bảo tàng tỉnh Cà Mau. Ông đã dành nhiều năm cuộc đời để truyền lửa đam mê lịch sử cho thế hệ trẻ.

Giồng Bốm - 80 năm vọng mãi hào khí kháng chiến

"Ai qua Giồng Bốm hôm nay/ Nhớ ngày khởi nghĩa chống Tây hôm nào". Cách nay 80 năm trận Giồng Bốm ghi dấu một mốc son chói lọi trong cuộc đấu tranh chống Pháp của Nhân dân vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Sự hy sinh của những nghĩa quân “áo trắng” là biểu tượng bất diệt cho tinh thần "đạo không rời đời, dân không rời nước", để lại niềm xúc động và sự tri ân sâu sắc trong lòng hậu thế. Trong tiến trình phát triển, di tích Giồng Bốm đã trở thành bảo tàng tinh thần lưu giữ những giá trị vô giá cho thế hệ mai sau.

Hào hùng chiến thắng Ðất Cháy

Tháng 4/1971, trong cái nắng như đổ lửa, cánh đồng Ðất Cháy (xã Phong Lạc cũ, nay là Xã Trần Văn Thời) ngả màu vàng sậm, những gốc rạ trơ đen, mương phèn khô nứt nẻ; bờ chuối, hàng tràm sau hậu đất lá khô rủ xuống, vàng hoe.

“Ngọn lửa” kiên trung của phụ nữ Nam Bộ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử kháng chiến Việt Nam, có những người phụ nữ mà cuộc đời họ đã trở thành huyền thoại, gắn liền với sự sống còn của phong trào cách mạng miền Nam. Bà Nguyễn Thị Ðược (bí danh Thanh), còn được gọi với tên thân mật Hai Ðược, là biểu tượng như thế.

Viết tiếp bản tình ca 65 năm giữa hai miền đất nước

Trong không khí ấm áp những ngày đầu năm 2026, đoàn công tác tỉnh Cà Mau có chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Ninh Bình. Chuyến đi không chỉ là hoạt động công tác thuần tuý mà còn là cuộc hội ngộ của những người anh em, cùng ôn lại truyền thống 65 năm kết nghĩa bền chặt và mở ra chương mới trong hợp tác phát triển.

Dấu hiệu mùa xuân

Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.