Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Một lòng theo Ðảng

Báo Cà Mau (CMO) Vừa qua, được cơ quan phân công, tôi có chuyến theo đoàn cán bộ do đồng chí Nguyễn Tiến Hải, Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh, làm trưởng đoàn, đưa tin đoàn đến trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đảng viên cao niên Vũ Khắc Trung (Tư Trung) đợt 19/5. Một buổi lễ trang trọng, đầy cảm xúc và ý nghĩa. Ai nấy lặng mình nghe ông Tư Trung kể về cuộc đời binh nghiệp đầy máu lửa. Ông tham gia kháng Pháp, chống Mỹ và có mặt trong đoàn quân làm nghĩa vụ quốc tế giúp nước bạn Campuchia. Còn vợ ông, bà Nguyễn Thị Dư cũng đã 63 năm tuổi Đảng, dâng hết tuổi xuân cho ngày giải phóng.

Suốt buổi, dù lúc trò chuyện hay khi phát biểu, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ đều trân trọng gọi bằng “Chú Tư kính mến” và khẳng định: “Những đồng chí cao niên tuổi Đảng trưởng thành trong chiến đấu như chú Tư, thím Tư là vốn quý của Đảng bộ, của xã hội, là tấm gương sáng để cán bộ, đảng viên và Nhân dân noi theo”.

Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Tiến Hải ân cần thăm hỏi sức khoẻ đồng chí đảng viên cao niên Vũ Khắc Trung.

“Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”

Lịch sử đã chọn và thử thách tấm lòng son sắt, kiên trung của ông Võ Thành Ngoạt (tên khai sinh của ông Tư Trung). Ông sinh ra trong gia đình nghèo ở Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh ngày nay, mồ côi cha mẹ từ năm lên 4, tuổi nhỏ phải đi làm thuê phụ giúp ông bà nội trong cuộc mưu sinh. Mang thân phận của người dân mất nước, chứng kiến bao cảnh đồng bào bị giặc đàn áp, bóc lột, trong ông sục sôi ý chí giết giặc. Khi cách mạng tháng 8/1945 diễn ra, lúc đó ông 17 tuổi đã đầu quân vào Vệ quốc đoàn, trở thành chiến sĩ Đại đội 1, Chi đội 14 (Khu 8).

Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông Tư Trung gắn liền với các đơn vị của Quân khu 8, từ khi là chiến sĩ cho đến ngày về hưu năm 1987 được phong cấp hàm trung tá. Cái tên Tư Trung đã từng là nỗi khiếp sợ đối với quân thù từ chiến trường miền Bắc đến miền Nam, bởi sự mưu trí, dũng lược. Điều đó được thể hiện qua nhiều trận đánh, ông Tư Trung được chỉ huy tin tưởng giao nhiệm vụ bố trí trận địa, vũ khí, nhân lực... Trong hoàn cảnh nào, cương vị nào ông vẫn giữ tròn khí tiết và niềm tin vào lý tưởng của Đảng.

Ông Tư Trung kể: “Tôi được kết nạp Đảng tại chiến trường sau 2 năm tham gia quân ngũ. Buổi lễ kết nạp tuy bài trí đơn sơ, không cầu kỳ, song vô cùng trang nghiêm bởi không khí thiêng liêng trong phút giây sinh tử của người lính trước giờ ra trận. Niềm vinh dự ấy trở thành nguồn sức mạnh vô hình, tôi mang theo vào từng trận đánh trên khắp mọi miền đất nước và những tháng ngày vượt dãy Trường Sơn”.

Khi đang học lớp Công trưởng ở Thái Nguyên, năm 1961, ông Tư Trung được giao nhiệm vụ mới, cùng đồng đội vượt Trường Sơn chi viện chiến trường miền Nam. Trong hồi ức, ông Tư Trung không thể quên suốt 3 tháng ròng vượt qua các dốc cao dựng đứng, có ngọn núi phải leo cả ngày mới tới đỉnh; hay lúc vượt suối, mọi người phải cho quần áo vào bao ni-lông buộc thành phao bơi, rồi bám dây lội qua. Ông Tư Trung kể: “Chúng tôi đi bộ men theo đường mòn, có lực lượng giao liên dẫn đường. Mỗi lần đến kho lương thực nhận gạo 7 ngày, để nấu cơm ở các điểm dừng chân. Hành quân đến trạm, nếu trời còn sáng thì dễ kiếm củi nấu cơm, còn đến tối thì rất khó khăn, nên anh em phân công nhau, trên đường hễ gặp cành cây khô thì bẻ đem theo phòng khi bất trắc”.

Những tháng ngày hành quân vượt Trường Sơn thật khốc liệt và khó có thể diễn tả hết. Tôi hiểu được điều đó phần nào từ ánh mắt buồn xa xăm và khoảng lặng của câu chuyện. Giọng ông bỗng trầm lại: “Ngày đi, đêm nghỉ, cơm vắt, ngủ rừng, lại trèo đèo lội suối, mang vác nặng nề đến 40 kg chứ chẳng vừa… Nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại trên đường hành quân bởi kiệt sức, bởi bom đạn và bệnh sốt rét”.

Còn đối với ông Tư Trung, đi bằng ý chí vì đồng bào miền Nam, chiến trường miền Nam đang chờ đợi…

Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Tiến Hải trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đảng viên Vũ Khắc Trung và chia vui cùng gia đình.

Vợ chồng đồng lòng chiến đấu

Bom đạn chiến trường tôi luyện nên một chiến sĩ cách mạng kiên trung và đã se duyên, vun đắp một mối tình bền chặt. Và cũng từ mối tình ấy đã tiếp thêm sức mạnh để họ cùng vượt qua biết bao hiểm nguy, gian khổ vẫn giữ trọn lời thề với Đảng, trách nhiệm với quê hương, đất nước.

Giai đoạn 1951-1954, ông Tư Trung là Trung đội phó, Trưởng quân lực Tiểu đoàn 307, hoạt động mạnh mẽ trên khắp chiến trường Nam Bộ. Những ngày đóng quân ở Tân Lộc (huyện Thới Bình), phối hợp với lực lượng địa phương làm nhiệm vụ, tại đây ông gặp gỡ và kết duyên chồng vợ với nữ giao liên Nguyễn Thị Dư, người con gái vóc dáng nhỏ nhắn nhưng lại có tinh thần dũng cảm, gan dạ.

Ngày cưới diễn ra đơn sơ, nhanh chóng để đồng đội cùng chứng kiến, chia vui. Ông Tư Trung nhớ lại: “Cưới vợ được vài ngày thì đơn vị chuyển địa điểm đóng quân, để chuẩn bị tiếp quản thị trấn Cà Mau. Trước khi lên đường, tôi nói với bà ấy, mình phải tạm gác chuyện tình cảm riêng tư để tập trung chiến đấu. Dù bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững khí tiết người chiến sĩ cách mạng”.

Ngày ông Tư Trung tập kết ra Bắc (năm 1955), cũng là năm bà Dư sinh người con đầu lòng. Đến khi đứa bé lên 10 tuổi, ông Tư Trung làm nhiệm vụ ở chiến trường miền Nam, mới được biết mặt con. Bà Dư hồi nhớ: “Vợ chồng tôi có 3 mặt con, mỗi đứa ra đời đều để lại một kỷ niệm khó quên. Đứa lớn thì sinh vào năm tập kết, đứa con gái kế sinh năm 1964 - vợ chồng gặp nhau sau 10 năm ngày cưới, con trai út sinh vào năm giải phóng 1975”. 

Vừa nuôi con vừa làm nhiệm vụ, đằng đẵng lo âu chồng chiến đấu phương xa, nhưng bà Dư vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng, làm trưởng cán sự phụ nữ xã, rồi công tác binh vận, uỷ viên an ninh xã và dạy các con lòng căm thù giặc… Có lần khi vận động bà con tham gia mít tinh lên án tội ác của đồn giặc đóng ở Cầu số 3, bà Dư bị giặc bắt, tra tấn nhiều ngày liền, nhưng bà vẫn một mực không khai báo.

Trong cuộc trò chuyện với các con của ông bà, ai nấy đều tự hào về quá khứ anh hùng của cha mẹ. Tấm gương mẫu mực, liêm khiết của cha mẹ đã hun đúc ý chí, nghị lực để con cái vươn lên. Chị Võ Thị Lệ Hằng, người con thứ 3, kể lại: “Nhớ lúc mẹ tôi bị địch bắt, tôi mới 8 tuổi, thương mẹ vất vả việc nước lại bị hành hạ đòn roi, tôi ở nhà cùng chị Hai đi cắt lá gói bánh, nấu xôi, mang nước cho bộ đội trú ẩn trong xóm, để mấy chú có sức khoẻ đánh giặc cứu mẹ. Chị tôi gan lắm, bị giặc chặn đường mấy lần mà vẫn bình tĩnh, lanh lẹ”. 

Ngày giải phóng, niềm vui sum họp gia đình chưa lâu, ông Tư Trung tiếp tục nhận nhiệm vụ mới, giúp sức chiến đấu ở chiến trường Campuchia. Còn bà Dư được phân công làm Bí thư Chi bộ Ấp 5, xã Tân Lộc, góp sức xây dựng quê hương đổi mới, một lòng một dạ chờ ngày đoàn tụ gia đình.

Cuộc đời của vợ chồng ông Tư Trung gắn liền với lịch sử thăng trầm của quê hương, đất nước. Nay tóc đã bạc, mắt đã mờ, song ở họ luôn hừng hực lửa khi nói về những năm tháng chiến đấu. Tinh thần ấy tiếp tục được phát huy trong xây dựng cuộc sống mới. Anh Lê Minh Thông, Bí thư Chi bộ ấp, cho biết: “Chi bộ có 26 đảng viên, trong có 9 đảng viên cao niên. Chi bộ luôn xem họ là những bậc “cố vấn”, khi công việc gặp khó khăn là nhờ các cô, chú chỉ dạy. Lúc chú, thím Tư còn khoẻ, mỗi cuộc họp chi bộ đều có mặt, đóng góp nhiều ý kiến hay. Tinh thần, trách nhiệm của chú Tư, thím Tư là tấm gương sáng để thế hệ đảng viên chúng tôi học tập, noi theo”./.

 

Mộng Thường

 

80 năm Trận Giồng Bốm - Vọng mãi khúc tráng ca

Sáng 30/4, tại Di tích Lịch sử quốc gia Địa điểm trận Giồng Bốm (xã Phong Thạnh), UBND tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (15/4/1946-15/4/2026).

Sáng ngời tinh thần “cứu nước là cứu đạo”

Cách nay tròn 80 năm, tại xã Phong Thạnh đã diễn ra trận chiến ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược. Toà thánh Ngọc Minh bị tàn phá nặng nề, 137 chiến sĩ “áo trắng” anh dũng hy sinh. Dù không giành thắng lợi về quân sự, trận Giồng Bốm đã tạo tiếng vang khắp Nam Bộ, giáng đòn mạnh vào âm mưu của kẻ thù.

Trọn nghĩa tri ân

Thời gian qua, công tác “đền ơn đáp nghĩa” tại xã Hưng Mỹ luôn được quan tâm thực hiện, thông qua những việc làm thiết thực và giàu tính nhân văn. Từ những phần quà tri ân, những mái nhà tình nghĩa đến sự sẻ chia trong đời sống hàng ngày, tất cả góp phần chăm lo tốt hơn cho các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, tô thắm đạo lý "uống nước nhớ nguồn" trong cộng đồng.

Sức sống cách mạng qua những địa danh anh dũng

Ði qua những năm tháng đạn bom, cùng với xương máu, hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ, những địa danh như: Chống Mỹ, Anh Dũng, Quyết Chiến, Quyết Thắng... đã gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn nửa thế kỷ thống nhất, những tên gọi này vẫn vang vọng hào khí cha ông, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp truyền thống cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Người lưu giữ lịch sử

Với nhiều người dân Cà Mau, ông Sáu Sơn là gương mặt quen thuộc, như “người kể chuyện lịch sử” - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Kể chuyện lịch sử tại Bảo tàng tỉnh Cà Mau. Ông đã dành nhiều năm cuộc đời để truyền lửa đam mê lịch sử cho thế hệ trẻ.

Giồng Bốm - 80 năm vọng mãi hào khí kháng chiến

"Ai qua Giồng Bốm hôm nay/ Nhớ ngày khởi nghĩa chống Tây hôm nào". Cách nay 80 năm trận Giồng Bốm ghi dấu một mốc son chói lọi trong cuộc đấu tranh chống Pháp của Nhân dân vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Sự hy sinh của những nghĩa quân “áo trắng” là biểu tượng bất diệt cho tinh thần "đạo không rời đời, dân không rời nước", để lại niềm xúc động và sự tri ân sâu sắc trong lòng hậu thế. Trong tiến trình phát triển, di tích Giồng Bốm đã trở thành bảo tàng tinh thần lưu giữ những giá trị vô giá cho thế hệ mai sau.

Hào hùng chiến thắng Ðất Cháy

Tháng 4/1971, trong cái nắng như đổ lửa, cánh đồng Ðất Cháy (xã Phong Lạc cũ, nay là Xã Trần Văn Thời) ngả màu vàng sậm, những gốc rạ trơ đen, mương phèn khô nứt nẻ; bờ chuối, hàng tràm sau hậu đất lá khô rủ xuống, vàng hoe.

“Ngọn lửa” kiên trung của phụ nữ Nam Bộ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử kháng chiến Việt Nam, có những người phụ nữ mà cuộc đời họ đã trở thành huyền thoại, gắn liền với sự sống còn của phong trào cách mạng miền Nam. Bà Nguyễn Thị Ðược (bí danh Thanh), còn được gọi với tên thân mật Hai Ðược, là biểu tượng như thế.

Viết tiếp bản tình ca 65 năm giữa hai miền đất nước

Trong không khí ấm áp những ngày đầu năm 2026, đoàn công tác tỉnh Cà Mau có chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Ninh Bình. Chuyến đi không chỉ là hoạt động công tác thuần tuý mà còn là cuộc hội ngộ của những người anh em, cùng ôn lại truyền thống 65 năm kết nghĩa bền chặt và mở ra chương mới trong hợp tác phát triển.

Dấu hiệu mùa xuân

Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.