Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nhớ năm tháng ấy

Báo Cà Mau Hồi đó, tôi trốn nhà đi Thanh niên xung phong chớ ba má tôi đâu có cho. Tôi lên Xã đoàn Phong Lạc, gia đình đi theo lên kiếm bắt về. Lúc đó tôi đang ở nhà anh Lự, nghe ba má tôi lên kiếm, tôi chui vô rẫy mía trốn. Anh Hai, anh Sáu của tôi hy sinh năm 1970. Anh Ba tôi, tức anh Ba Phú, lúc đó đang công tác ở Huyện đoàn Cái Nước cho nên nhà đâu còn ai, tôi đi Thanh niên xung phong năm đó mới có 15 tuổi hà, ba má cưng tôi lắm!

Ba tôi quê ở Bến Tre, 25 tuổi theo ông nội tản cư xuống Cà Mau rồi gặp má tôi. Năm 1972, tôi vào Ðảng, khai lý lịch, thành phần gia đình là trung nông chớ thật ra là bần nông mới đúng. Nhớ năm 1968, tôi từ Xã đoàn đi lên tới Huyện đoàn Trần Văn Thời, làm lễ kết nạp Ðoàn tại đó. Tôi không nhớ kỳ đó kết nạp được bao nhiêu người nhưng cũng không nhiều lắm. Kết nạp xong rồi thì có mấy anh ở Tỉnh đoàn Cà Mau đến nhận quân.

Anh Tư Bay lúc đó là Liên đội I, ảnh xuống để nhận quân cho Ðại đội Nguyễn Việt Khái 3. Còn tôi thì về Ðại đội Nguyễn Việt Khái 4 mới được thành lập. Trung đội của tôi do anh Lê Trung làm Trung đội trưởng. Chế Năm Liên với anh Thành Trung làm Trung đội phó. Khi tập hợp lên Tỉnh đoàn mới thành lập Liên đội, sau đó đưa qua phục vụ chiến trường lộ Vòng Cung. Tôi nhớ lúc đơn vị lên đến chỗ Thới Lai - Cờ Ðỏ thì gặp mấy anh bộ đội chủ lực miền Tây là Tiểu đoàn 307-367. Nhiệm vụ của chúng tôi lúc đó là chuyển vũ khí, đạn dược vào thành phố, chuyển thương binh, tử sĩ về tuyến sau. Có trạm quân y dã chiến được thành lập để phục vụ chiến dịch.

Hoạt động ở lộ Vòng Cung được mấy tháng thì kết thúc chiến dịch. Ðơn vị của tôi được lệnh rút về “tuyến trên” bổ sung cho Tuyến đường 1C. Chuyến đi này đã để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc không thua lúc ở lộ Vòng Cung. Tôi nhớ lúc qua lộ Cái Sắn, tụi tôi lội ngang sông, mà giặc đóng ở hai bên kinh lộ. Ðại đội của tụi tôi là đại đội đủ nên khá đông, vậy mà tụi tôi cũng qua được an toàn. Ðến rừng tràm Hà Tiên thì địch đánh bứt đường, không qua được, đành phải đóng quân lại đó, chia lực lượng ra thành hai tốp. Một tốp do anh Tư Bay dắt đi trước, một tốp do anh Hai Tân dắt đi sau. Lần lượt tìm cách len lỏi mà đi. Tôi nằm ở cánh của anh Hai Tân.

Minh hoạ: Minh Tấn.

Tháng 8, 9 là mùa nước nổi mênh mông. Ban ngày tụi tôi ém vô mấy bờ đìa, cảnh giác máy bay địch phát hiện. Ðêm xuống len lau lách mà đi. Trên trời mưa đổ như trút nước, dưới đất nước ngập tới lưng quần, tụi tôi lội loi ngoi trong nước như bầy chuột lột, cái lạnh càng lúc càng thấm sâu vào da thịt, tê buốt đến tận tim gan, vậy mà phải chịu đựng, đi cho đến khi trời hừng sáng. Lần đó quần áo lớp lội nước, lớp bị mưa ướt hết trơn không còn đồ mặc, tụi tôi tranh thủ giặt phơi. Trực thăng đi lùng phát hiện, nó đánh tụi tôi suốt một ngày trời. Lớp thì nó bỏ bom, lớp thì bắn pháo, lớp đổ quân. Cánh quân của tụi tôi lúc đó tơi tả: đứa chết, đứa bị thương, đứa thất lạc, còn sống sót thì tìm cách bò về. Trận đó về được tới nơi quần của tụi tôi chỉ còn có khúc trên, hai ống đứt mất tiêu lúc nào hổng biết, cỏ bắc ở Hà Tiên bén như dao cạo, nó cắt tụi tôi đứt thịt đứt da (sau này chúng tôi được phát quần bằng vải ni lông dầu, vừa mau khô, vừa chắc).

Trận đó, đơn vị tôi chết 36 đứa. Nhắc đến mà bùi ngùi nhưng khi đó đang trên đường hành quân, giặc nó đánh mình chạy không kịp thở làm sao kịp chôn cất đồng đội. Mấy anh mới đem gài thi thể dưới nước, chặt cây tràm gài chặt xuống để đừng nổi lên rồi tiếp tục lên đường, chớ đâu còn cách nào khác hơn… Anh Hai Tân có vẽ sơ đồ, nhưng tụi tôi cũng đâu có biết chỗ đó là chỗ nào, sau này nghe nói là kinh Tám Ngàn. Biết bao mùa nước nổi, xương thịt rã hết, bị nước cuốn trôi, nên khi về tìm đâu có gặp. Tụi tôi lần đó đâu có đứa nào còn nước mắt để mà khóc. Sống chung với nhau, thương như ruột thịt trong nhà, nhưng thấy đó rồi chết đó, tụi tôi như kẻ mất hồn vậy!

Về tới nơi, mấy anh nam còn quần áo cho tụi tôi mượn mặc. Chừng lên tới Campuchia rồi gặp chế Hồng Thắm tụi tôi ôm nhau khóc quá chừng. Chế Hồng Thắm có bà con với tôi, còn chế Hồng Láng là bà con cô cậu ruột. Út Hậu là em chồng của chị Hai tôi. Gặp nhau rồi không còn lời lẽ, cứ khóc. Lên tới đơn vị rồi, biên chế lại, tôi ở chung với chế Hồng Hạnh. Năm 1970, chế Hồng Hạnh với Mười Nhỏ cũng hy sinh ở đồi Tức Dụp.

Liên đội I Thanh niên xung phong hầu hết là dân Cà Mau cho nên lúc mới lên anh Tư Bay ảnh mới chọc: “Bộ mấy em ở dưới hổng có gạo ăn sao lên đây đông dữ vậy nè! Lên đây rồi ai nuôi?”. Lúc mới lên tôi sợ súng lắm, riết rồi quen. Mùa nước mình chở bằng xuồng, nhưng mùa khô mình phải vác. Vác đạn tụi tôi hay hát bài “Cô gái Sài Gòn đi tải đạn”, trong đó có câu: “Quả pháo ơi sao mà vui như đứa trẻ...”. Mình bế nó lên vai vừa đi vừa hát. Bây giờ nhớ lại sợ hết hồn. B40, B41 lỡ nó nổ một cái thì chết, vậy mà việc đó không bao giờ xảy ra đối với Thanh niên xung phong.

Năm 1970, tôi được rút đi học y tá ở Ðoàn 200, đến năm 1972 tôi qua A44, Cơ yếu của Ðoàn 192, sau đó tôi về Miền luôn. Giải phóng rồi tôi lo làm ăn, không liên hệ được với ai, đến khi họp mặt Thanh niên xung phong lần đầu tiên ở Sóc Trăng gặp mấy anh, mấy chị, tụi tôi khóc với nhau quá trời. Nhắc đến người này, người kia, kẻ còn, người mất, có một số hài cốt của mấy anh, chị chưa tìm được, tụi tôi tủi, tụi tôi lại khóc với nhau. Nói chung, đối với tụi tôi, những Thanh niên xung phong còn sống sót được trên tuyến lửa 1C hầu hết đều có tâm trạng như nhau. Ðối với tôi, khoảng đời sống ở Thanh niên xung phong luôn in đậm vào ký ức và mãi mang theo đến tận cuối đời./.

(Tổng hợp tự thuật của Thu Bé, cán bộ Thanh niên xung phong)

Nguyễn Thái Thuận

 

80 năm Trận Giồng Bốm - Vọng mãi khúc tráng ca

Sáng 30/4, tại Di tích Lịch sử quốc gia Địa điểm trận Giồng Bốm (xã Phong Thạnh), UBND tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (15/4/1946-15/4/2026).

Sáng ngời tinh thần “cứu nước là cứu đạo”

Cách nay tròn 80 năm, tại xã Phong Thạnh đã diễn ra trận chiến ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược. Toà thánh Ngọc Minh bị tàn phá nặng nề, 137 chiến sĩ “áo trắng” anh dũng hy sinh. Dù không giành thắng lợi về quân sự, trận Giồng Bốm đã tạo tiếng vang khắp Nam Bộ, giáng đòn mạnh vào âm mưu của kẻ thù.

Trọn nghĩa tri ân

Thời gian qua, công tác “đền ơn đáp nghĩa” tại xã Hưng Mỹ luôn được quan tâm thực hiện, thông qua những việc làm thiết thực và giàu tính nhân văn. Từ những phần quà tri ân, những mái nhà tình nghĩa đến sự sẻ chia trong đời sống hàng ngày, tất cả góp phần chăm lo tốt hơn cho các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, tô thắm đạo lý "uống nước nhớ nguồn" trong cộng đồng.

Sức sống cách mạng qua những địa danh anh dũng

Ði qua những năm tháng đạn bom, cùng với xương máu, hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ, những địa danh như: Chống Mỹ, Anh Dũng, Quyết Chiến, Quyết Thắng... đã gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn nửa thế kỷ thống nhất, những tên gọi này vẫn vang vọng hào khí cha ông, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp truyền thống cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Người lưu giữ lịch sử

Với nhiều người dân Cà Mau, ông Sáu Sơn là gương mặt quen thuộc, như “người kể chuyện lịch sử” - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Kể chuyện lịch sử tại Bảo tàng tỉnh Cà Mau. Ông đã dành nhiều năm cuộc đời để truyền lửa đam mê lịch sử cho thế hệ trẻ.

Giồng Bốm - 80 năm vọng mãi hào khí kháng chiến

"Ai qua Giồng Bốm hôm nay/ Nhớ ngày khởi nghĩa chống Tây hôm nào". Cách nay 80 năm trận Giồng Bốm ghi dấu một mốc son chói lọi trong cuộc đấu tranh chống Pháp của Nhân dân vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Sự hy sinh của những nghĩa quân “áo trắng” là biểu tượng bất diệt cho tinh thần "đạo không rời đời, dân không rời nước", để lại niềm xúc động và sự tri ân sâu sắc trong lòng hậu thế. Trong tiến trình phát triển, di tích Giồng Bốm đã trở thành bảo tàng tinh thần lưu giữ những giá trị vô giá cho thế hệ mai sau.

Hào hùng chiến thắng Ðất Cháy

Tháng 4/1971, trong cái nắng như đổ lửa, cánh đồng Ðất Cháy (xã Phong Lạc cũ, nay là Xã Trần Văn Thời) ngả màu vàng sậm, những gốc rạ trơ đen, mương phèn khô nứt nẻ; bờ chuối, hàng tràm sau hậu đất lá khô rủ xuống, vàng hoe.

“Ngọn lửa” kiên trung của phụ nữ Nam Bộ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử kháng chiến Việt Nam, có những người phụ nữ mà cuộc đời họ đã trở thành huyền thoại, gắn liền với sự sống còn của phong trào cách mạng miền Nam. Bà Nguyễn Thị Ðược (bí danh Thanh), còn được gọi với tên thân mật Hai Ðược, là biểu tượng như thế.

Viết tiếp bản tình ca 65 năm giữa hai miền đất nước

Trong không khí ấm áp những ngày đầu năm 2026, đoàn công tác tỉnh Cà Mau có chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Ninh Bình. Chuyến đi không chỉ là hoạt động công tác thuần tuý mà còn là cuộc hội ngộ của những người anh em, cùng ôn lại truyền thống 65 năm kết nghĩa bền chặt và mở ra chương mới trong hợp tác phát triển.

Dấu hiệu mùa xuân

Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.