Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nỗi lòng người lính phương xa

Báo Cà Mau Trong suốt những năm tháng chiến đấu xa quê hương, xa Tổ quốc, những người con của quê hương Minh Hải ngày nào vừa mới đi qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chưa được hưởng trọn niềm vui khi đất nước hoà bình, thống nhất, nhiều đồng chí chưa dám nghĩ đến việc lập gia đình và tạo lập cuộc sống riêng tư, thậm chí chưa có dịp về thăm lại quê hương xứ sở, thăm lại bạn bè.

Trong suốt những năm tháng chiến đấu xa quê hương, xa Tổ quốc, những người con của quê hương Minh Hải ngày nào vừa mới đi qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chưa được hưởng trọn niềm vui khi đất nước hoà bình, thống nhất, nhiều đồng chí chưa dám nghĩ đến việc lập gia đình và tạo lập cuộc sống riêng tư, thậm chí chưa có dịp về thăm lại quê hương xứ sở, thăm lại bạn bè. Một lần nữa, người lính phải gác lại chuyện riêng tư tiếp tục cầm súng lên đường tham gia chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thân yêu nơi biên cương của Tổ quốc ở chiến trường Hà Tiên - Kiên Giang.

Ðến tháng Giêng năm 1979, đáp lời kêu gọi thiết tha của Mặt trận Dân tộc cứu nước Campuchia anh em, họ lại cùng đoàn quân tình nguyện Việt Nam tiến sang giải phóng đất nước và giúp Nhân dân Campuchia thoát khỏi hoạ diệt chủng của tập đoàn phản động Pôn Pốt; rồi cũng từ đó, suốt gần 10 năm họ làm nhiệm vụ quốc tế, vừa chiến đấu, vừa giúp bạn trên chiến trường tỉnh Kô Kông.

Minh hoạ: Hoàng Vũ

Suốt những năm tháng xa quê hương ấy, với tinh thần quốc tế cao cả và đứng trên quan điểm “Giúp bạn là tự giúp mình”, hàng ngàn cán bộ chiến sĩ của lực lượng vũ trang Minh Hải (nay là tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu), sẵn sàng chấp nhận những nỗi gian lao, vất vả thiếu thốn mọi điều, cả đến hy sinh tính mạng và mất mát một phần thân thể vì sự bình yên của đất nước Việt Nam, sự hồi sinh của dân tộc Campuchia anh em. Có những đơn vị hành quân truy quét tàn quân địch hay đứng chặn chốt giữa sâu trong các vùng rừng núi đại ngàn, lương thực, thực phẩm rất thiếu thốn, đặc biệt là có lúc thiếu muối ăn trầm trọng. Nhiều đơn vị cử bộ đội về phía sau tải gạo, tải thương, nhiều đồng chí vấp phải mìn và bị địch phục kích hy sinh; bệnh sốt rét rừng cũng từng quật ngã nhiều anh em đang tràn đầy sức trẻ.

Những nỗi gian lao vất vả của người lính ở chiến trường đất bạn trong suốt những năm 80 của thế kỷ XX thì không làm sao nói hết được, nhưng người lính cũng vượt qua tất cả. Duy chỉ có một điều tôi cũng muốn nói ra để thế hệ hôm nay và mai sau hiểu và cùng chia sẻ, cảm thông cho những nỗi lòng của người lính chiến đấu xa quê hương, xa Tổ quốc, đó chính là sự thiếu thốn về tình cảm.

 Vào những năm 80 ấy, mặc dù chiến đấu xa Tổ quốc, nhưng người lính hiểu rằng đất nước ta vừa trải qua 2 cuộc kháng chiến, hậu quả chiến tranh để lại nặng nề, lại bị bao vây cấm vận, đất nước ta lại trong thời kỳ bao cấp, nền kinh tế vô cùng khó khăn, lương thực, thực phẩm thiếu thốn trầm trọng, có lúc cán bộ, công chức và bộ đội phải ăn độn bột mì và cao lương. Trong điều kiện ấy, nhiều đồng chí, anh em chúng tôi có dịp nghỉ phép về thăm gia đình, nhìn thấy cảnh sống khó khăn của cha mẹ, anh em và vợ con thì lòng thật xót xa.

Một vấn đề khác cũng thật tế nhị, rất khó nói ra, đó là nỗi lòng luôn phải chịu sự thiếu thốn tình cảm của hậu phương. Trong những năm chống giặc Mỹ xâm lược, dẫu sao bên cạnh đó cũng có tình cảm của hậu phương, gia đình nhưng sang chiến đấu bên chiến trường Campuchia, đối với anh em cán bộ thì thỉnh thoảng 1-2 năm còn được nghỉ phép về thăm gia đình. Ðặc biệt là số chiến sĩ trẻ thực hiện nghĩa vụ quân sự 3 năm thì không có chế độ nghỉ phép. Nhiều đơn vị đứng chốt giữ giữa rừng sâu không có bóng dáng người dân Campuchia.

Có lần vào cuối năm 1980, khi đơn vị của chúng tôi lên chốt giữ ở vùng Bến Ðá, đồi Không Tên, điểm cao K172, một hôm, Ðoàn Văn công Quân khu 9 sang phục vụ tại Ban Chỉ huy Trung đoàn 20. Ðêm ấy, chỉ có 50% quân số được xem văn công biểu diễn, số còn lại phải làm nhiệm vụ trên các điểm chốt dọc biên giới Campuchia - Thái Lan, không được xem. Sáng hôm sau, được biết đoàn còn lưu lại ở trung đoàn, nhiều anh em ở các chốt điện về đề nghị các chị Thanh Thoảng, Như Nguyệt hát vài câu vọng cổ qua máy bộ đàm vì anh em thèm được nghe giọng ca của con gái nước mình. Trước khẩn cầu tha thiết đó, đơn vị phải mất vài chục lố pin để anh em được nghe giọng ca của ca sĩ từ Việt Nam sang.

Một lần khác, vào dịp cuối năm 1985, đoàn cán bộ phụ nữ tỉnh nhà do cô Út Bình sang thăm và chúc Tết bộ đội. Ðoàn đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3 đứng chân tại Chikholơ. Ðơn vị đang cử 1 đại đội truy quét địch trong rừng, sáng hôm đó khi nghe tin đoàn Minh Hải đến thăm, Ban Chỉ huy đại đội cho bộ đội băng rừng vượt qua trên 15 km để kịp về đón đoàn đến thăm. Trên đường hành quân về, các chiến sĩ ta hái những cành hoa rừng rất đẹp, khi vừa về đến đơn vị thì đoàn đã đến trước đó khoảng nửa giờ, cô Út Bình đang nói chuyện với anh em trong hội trường, số cán bộ, chiến sĩ vừa mới về đến chạy ào vào hội trường tặng những đoá hoa tươi thắm và ôm hôn thắm thiết cô Út và các cô gái trong đoàn - một cử chỉ thật tình cảm để thoả lòng khát khao vì quá lâu họ mới được gặp người con gái Việt Nam.

Có lẽ các chị, các em cũng hiểu và cảm thông cho người lính sống xa quê nhà. Cũng tại buổi gặp gỡ này, tôi còn nhớ có em gái tên là Ngọc Huệ hát phục vụ cho anh em nghe bài “Nhớ”. Cuối bài hát có câu “Ai nhớ cứ nhớ, ai đi cứ đi, chiến trường súng nổ, thắng giặc lại về...”. Ôi! Giọng hát, lời ca của em sao mà tha thiết quá, làm cho nhiều anh chàng lính trẻ cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ. Sau đó, cơ quan tuyên huấn của Ðoàn 9907 nhờ Ngọc Huệ hát lại bài ca ấy để thu vào băng rồi sang ra mấy chục cuốn để gửi xuống các đơn vị cho anh em nghe...

Ðó là vài câu chuyện về nỗi niềm khát khao cháy bỏng của những người con chiến đấu ở xa quê hương, Tổ quốc. Có lẽ những ai là người trong cuộc mới thấu hiểu và cảm thông cho nỗi niềm ấy. Có thể nói, đó là sự chấp nhận hy sinh không hề nhỏ. Ðến hôm nay, sau hơn 25 năm về lại với quê nhà, sống trong điều kiện đất nước hoà bình, kinh tế đủ đầy, những người lính chúng tôi đã từng trải qua những năm tháng, ở chiến trường đất bạn, vẫn không thể nào quên những kỷ niệm ấy./.

Võ Hà Ðô

80 năm Trận Giồng Bốm - Vọng mãi khúc tráng ca

Sáng 30/4, tại Di tích Lịch sử quốc gia Địa điểm trận Giồng Bốm (xã Phong Thạnh), UBND tỉnh Cà Mau long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Trận Giồng Bốm (15/4/1946-15/4/2026).

Sáng ngời tinh thần “cứu nước là cứu đạo”

Cách nay tròn 80 năm, tại xã Phong Thạnh đã diễn ra trận chiến ác liệt chống thực dân Pháp xâm lược. Toà thánh Ngọc Minh bị tàn phá nặng nề, 137 chiến sĩ “áo trắng” anh dũng hy sinh. Dù không giành thắng lợi về quân sự, trận Giồng Bốm đã tạo tiếng vang khắp Nam Bộ, giáng đòn mạnh vào âm mưu của kẻ thù.

Trọn nghĩa tri ân

Thời gian qua, công tác “đền ơn đáp nghĩa” tại xã Hưng Mỹ luôn được quan tâm thực hiện, thông qua những việc làm thiết thực và giàu tính nhân văn. Từ những phần quà tri ân, những mái nhà tình nghĩa đến sự sẻ chia trong đời sống hàng ngày, tất cả góp phần chăm lo tốt hơn cho các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng, tô thắm đạo lý "uống nước nhớ nguồn" trong cộng đồng.

Sức sống cách mạng qua những địa danh anh dũng

Ði qua những năm tháng đạn bom, cùng với xương máu, hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ, những địa danh như: Chống Mỹ, Anh Dũng, Quyết Chiến, Quyết Thắng... đã gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn nửa thế kỷ thống nhất, những tên gọi này vẫn vang vọng hào khí cha ông, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp truyền thống cách mạng cho các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

Người lưu giữ lịch sử

Với nhiều người dân Cà Mau, ông Sáu Sơn là gương mặt quen thuộc, như “người kể chuyện lịch sử” - Chủ nhiệm Câu lạc bộ (CLB) Kể chuyện lịch sử tại Bảo tàng tỉnh Cà Mau. Ông đã dành nhiều năm cuộc đời để truyền lửa đam mê lịch sử cho thế hệ trẻ.

Giồng Bốm - 80 năm vọng mãi hào khí kháng chiến

"Ai qua Giồng Bốm hôm nay/ Nhớ ngày khởi nghĩa chống Tây hôm nào". Cách nay 80 năm trận Giồng Bốm ghi dấu một mốc son chói lọi trong cuộc đấu tranh chống Pháp của Nhân dân vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Sự hy sinh của những nghĩa quân “áo trắng” là biểu tượng bất diệt cho tinh thần "đạo không rời đời, dân không rời nước", để lại niềm xúc động và sự tri ân sâu sắc trong lòng hậu thế. Trong tiến trình phát triển, di tích Giồng Bốm đã trở thành bảo tàng tinh thần lưu giữ những giá trị vô giá cho thế hệ mai sau.

Hào hùng chiến thắng Ðất Cháy

Tháng 4/1971, trong cái nắng như đổ lửa, cánh đồng Ðất Cháy (xã Phong Lạc cũ, nay là Xã Trần Văn Thời) ngả màu vàng sậm, những gốc rạ trơ đen, mương phèn khô nứt nẻ; bờ chuối, hàng tràm sau hậu đất lá khô rủ xuống, vàng hoe.

“Ngọn lửa” kiên trung của phụ nữ Nam Bộ

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử kháng chiến Việt Nam, có những người phụ nữ mà cuộc đời họ đã trở thành huyền thoại, gắn liền với sự sống còn của phong trào cách mạng miền Nam. Bà Nguyễn Thị Ðược (bí danh Thanh), còn được gọi với tên thân mật Hai Ðược, là biểu tượng như thế.

Viết tiếp bản tình ca 65 năm giữa hai miền đất nước

Trong không khí ấm áp những ngày đầu năm 2026, đoàn công tác tỉnh Cà Mau có chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Ninh Bình. Chuyến đi không chỉ là hoạt động công tác thuần tuý mà còn là cuộc hội ngộ của những người anh em, cùng ôn lại truyền thống 65 năm kết nghĩa bền chặt và mở ra chương mới trong hợp tác phát triển.

Dấu hiệu mùa xuân

Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.