Thứ ba, 3-2-26 18:15:03
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Thầy tiếc cây kim máy hơn những giọt máu

Báo Cà Mau Cách đây 40 năm, đó là những ngày cuối của năm 1974, tại lớp học của cô Bình ở Bào Dừa, hai chị em của em là Huỳnh Lê và Huỳnh Ðào nhập học. Do vào trường những ngày gần Tết nên khi thầy, cô may đồ Tết cho các bạn, 2 em không có phần vải. Nghe cô Bình bàn với thầy Trung: “Sẽ tận dụng vải bên hông, cắt ống hẹp lại để mót cho Huỳnh Lê, Huỳnh Ðào đứa một cái quần”, em mừng vô cùng! Ðồ Tết của tụi em là một cái quần ni-lông đen.

Cách đây 40 năm, đó là những ngày cuối của năm 1974, tại lớp học của cô Bình ở Bào Dừa, hai chị em của em là Huỳnh Lê và Huỳnh Ðào nhập học. Do vào trường những ngày gần Tết nên khi thầy, cô may đồ Tết cho các bạn, 2 em không có phần vải. Nghe cô Bình bàn với thầy Trung: “Sẽ tận dụng vải bên hông, cắt ống hẹp lại để mót cho Huỳnh Lê, Huỳnh Ðào đứa một cái quần”, em mừng vô cùng! Ðồ Tết của tụi em là một cái quần ni-lông đen.

Buổi sáng, thầy, cô đi dạy, tụi em đi học. Trưa về cô Bình cắt, thầy Ða và thầy Trung may. May luôn đến đêm để còn kịp phát cho tụi em về mặc Tết. Cắt, may ngay tại chỗ ở của cô Bình (cô ở chung với tất cả bọn con gái tụi em). Ngày Tết gần kề, sợ đồ may không kịp nên chiều chạng vạng hôm đó, cô nói: “Hai thầy may đua đi cho nhanh”. Hai thầy đồng ý.

Thầy Ða nói: “Tôi may một cái quần trong 10 phút”.

Thầy Trung bảo: “Tôi may trong 7 phút”.

Thầy Ða: “Tôi may trong 5 phút”.           

Thầy Trung: “Ðồng ý luôn. Tôi may quần Lý Kim Tiến”.

Thầy Ða: “Tôi may quần Huỳnh Ðào, nhỏ hơn, may mau thắng ông chắc luôn”. Chị Huệ đi đốt thêm đèn con cóc và cuộc thi may quần lặng lẽ trong đêm bên ánh đèn dầu được bắt đầu. Cô Bình vừa là thợ cắt vừa là trọng tài, mấy đứa con gái tụi em ngồi bên bộ vạt đối diện với thầy, cô đang im lặng dõi theo làm cổ động viên cho 2 thầy. Em nôn nóng đồ mới quá, nên đã bước xuống đất đi tới, đi lui, chỉ mong thầy Ða may xong là mặc thử liền.   

Bỗng, rốp! Một tiếng động nhỏ đủ phá tan sự im lặng. “Kim gãy Bình ơi!”, thầy Ða hốt hoảng la lên. Thầy Trung liền hỏi: “Có sao hôn?”. Không có tiếng trả lời. Tất cả chúng em hướng mắt nhìn thầy Ða, rồi nhìn chỗ cây kim máy của thầy. Cây kim đã gãy đôi, nửa phần dưới đâm thẳng vào đầu ngón tay trỏ trái của thầy, phần còn lại còn dính trong máy may.

Thầy dùng tay phải lăn bánh xe đầu máy, nhấc chân vịt, gỡ phần trên kim ra rồi thầy mới rút phần kim bị gãy còn đang đâm ở đầu ngón tay ra. Máu ứa ra nhiễu liền giọt trên bàn máy, cô Bình quýnh lên, vội đi tìm vải băng cho thầy. Còn thầy thì cứ cầm 2 khúc gãy của cây kim đem so lại, kề sát lại, muốn nó dính liền, dù biết đó là điều không thể, mặc cho máu trên đầu ngón tay cứ nhiễu. Trái tim của chúng em se thắt lại vì thương thầy bị đau. Còn thầy mặt buồn rười rượi, vì tiếc cây kim.

Ngày đó chúng em chưa đủ lớn khôn để hiểu rằng, 1 cây kim may máy trước ngày giải phóng là điều không dễ có, và càng chưa hiểu đươc nỗi lo “gãy cây kim sẽ may đồ không kịp cho chúng em mặc Tết”, nỗi lo lớn bao trùm ở trong lòng thầy.

Thưa thầy, đã bốn mươi năm trôi qua, có lẽ thầy không còn nhớ về câu chuyện này? Nhưng câu chuyện rất thật, rất đời thường, bình dị, gần gũi mà vô cùng thiêng liêng cao đẹp về tấm lòng của thầy đã mãi mãi ghi khắc trong lòng của mỗi chúng em trong suốt cuộc đời này.

 Mười năm sau (1984)

Em đang xếp hàng rồng rắn để chờ lãnh cơm ở nhà ăn của Trường Ðại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh, bất ngờ thấy thầy từ xa. Em chui vội dưới cây sắt cản ngang bên hông để xếp hàng, chạy về phía thầy, gọi: “Thầy, thầy, thầy, thầy ơi! Thầy…”. Thầy trò nhận ra đang học cùng khoá trong một trường đại học. Em mừng vui quá nên chỉ đứng nhìn, không biết hỏi thêm gì. Chợt thầy hỏi em: “Cái chân bị gì mà cà nhắc vậy?”. “Dạ, hôm qua em đi chợ chiều bị chó cắn”, em trả lời. Thầy hỏi em ở phòng mấy…

Ăn cơm trưa xong được một lúc, nghe có người tìm ngoài cửa, thầy đứng vịn xe đạp tìm em. Thầy nói: “Lên xe thầy chở đi chích ngừa”. Từ trường đến Bệnh viện huyện Thủ Ðức xa tới mấy cây số, vậy mà cứ đến hẹn của bệnh viện, thầy đến chở em đi cho đến đủ 5 lần chích mới thôi. Ở vùng đất đỏ miền Ðông này, buổi trưa nắng như đổ lửa, gió thổi cát và đất đỏ cuộn lên mù mịt, đường dốc cao, chiếc xe đạp của thầy lỏng sên, kêu rẹt… rẹt. Khi lên dốc, thầy cong lưng đạp, những cái dốc cao, dốc dài vắt kiệt sức thầy. Em mong sao nhanh xuống dốc để thầy có thể lấy lại chút sức lực, để rồi lại lên dốc. Nhưng mỗi khi đến đỉnh dốc, thì thầy dừng xe, dẫn bộ xuống. Thầy nói: Xe lỏng sên quá, xuống dốc nguy hiểm lắm, chân em bị đau cứ ngồi im đó. Thầy dẫn xe xuống hết dốc, lại cong lưng đạp lên dốc. Cả đi và về đến 10 lần trên con đường dài này, không có lần nào xe được thả dốc…

Thưa thầy! Thầy là ai? Là cha, là mẹ hay là ông Tiên? Ngày trước khi còn học dưới mái Trường Nội trú Cà Mau - Ninh Bình, thầy, cô đã thay cha, thay mẹ chăm sóc chúng em, còn giờ đây em đã xa tầm tay thầy, cô về với mẹ, cha đã lâu, vậy mà khi em gặp khó khăn, thì tấm lòng bao dung, nhân hậu ấy luôn hiện hữu và dắt dìu, nâng đỡ em…

Không phải chỉ có riêng em, mà các bạn học sinh Trường Nội trú Cà Mau - Ninh Bình em cũng đều được soi sáng bởi tình yêu thương, lòng nhân hậu của thầy. Một việc làm mà với  thầy là rất bình thường: Chở học sinh cũ đi chích ngừa, nhưng thầy chắc không biết rằng, thầy đã cứu sống em. Thầy có biết không, sau đó, con chó cắn em đã chết vì bị dại.

Thưa thầy! Em không có đủ câu từ nào nói hết công ơn của  thầy đối với em, bởi vì đi khắp thế gian này, có mấy ai có được người thầy như thầy của em! Tình cảm và công ơn thầy mãi mãi là hành trang trong em suốt cuộc đời này. Em muốn nói một câu rất chân thành với tất cả mọi người rằng: “Thầy của em là người rất vĩ đại!"./.

Huỳnh Ðào, học sinh khoá 3, 4, Trường Nội trú Cà Mau - Ninh Bình

Thăm căn cứ xưa

Một sáng cuối năm 2025, tôi và anh Phạm Thạnh Trị - đồng đội từng công tác tại Văn phòng Tỉnh uỷ từ cuối năm 1960-1975, được anh Lê Minh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cà Mau, mời về thăm lại Di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước (ấp Xẻo Ðước, xã Phú Mỹ), nhắc nhớ ký ức những năm tháng sống và làm việc ở nơi này.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài cuối: Nối tiếp truyền thống, dấn thân kiến tạo

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Cà Mau không chỉ là mảnh đất của những chiến công hiển hách mà còn là nơi lưu dấu những giá trị sâu sắc về dân chủ và pháp quyền. Ở đó, dòng chảy lập hiến luôn được tiếp nối giữa các thế hệ.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 3: Phát huy dân chủ - Kiến tạo phát triển

80 năm đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội năm 1946, tinh thần “lấy dân làm gốc” vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy chính trị của đất nước. Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, tinh thần ấy đang được cụ thể hoá bằng chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân, nơi quyền lực của Nhân dân được thực thi mạnh mẽ qua từng lá phiếu và tiếng nói phản biện tại diễn đàn HÐND các cấp.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 2: Từ lá phiếu đầu tiên đến nghị trường

Trải qua 15 nhiệm kỳ gắn liền với 80 năm lịch sử Quốc hội Việt Nam, các thế hệ đại biểu Quốc hội (ÐBQH) tỉnh Cà Mau (bao gồm cả giai đoạn thuộc tỉnh Bạc Liêu và Minh Hải) đã luôn khẳng định vai trò là cầu nối vững chắc giữa ý chí của Nhân dân vùng cực Nam với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Từ những ngày đầu sơ khai của nền dân chủ đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dấu ấn của người đại biểu nơi đây luôn đậm nét trong từng quyết sách hệ trọng của quốc gia.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ

LTS: Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta cùng ngược dòng lịch sử về vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Giữa tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, người dân Cà Mau biến ngày 6/1/1946 thành "mốc son chói lọi", khẳng định quyền làm chủ và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc quyết không làm nô lệ.

Tiểu đoàn 307 - Huyền thoại và sự tiếp nối

Tiểu đoàn 307 không chỉ là cái tên đi vào những ca khúc cách mạng bất hủ, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Nam Bộ. Trên vùng đất Cà Mau kiên trung, dấu ấn của Tiểu đoàn đã được khắc ghi đậm nét trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Khởi nghĩa Hòn Khoai - Biểu tượng anh hùng bất tử

Cách đây 85 năm, tại Hòn Khoai - đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc, diễn ra sự kiện lịch sử lừng lẫy: cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Anh hùng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 giành toàn thắng.

Nhớ mái trường thời chiến

Giữa năm 1967, tôi được địa phương chọn đưa đi học Trường Bổ túc văn hoá tu nghiệp sư phạm huyện Trần Văn Thời, đào tạo giáo viên cho cơ sở.

Nghĩa tình son sắt, vượt thời gian

Mối quan hệ kết nghĩa giữa Ninh Bình (miền Bắc hậu phương) và Bạc Liêu (miền Nam tiền tuyến, nay là tỉnh Cà Mau) là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết Bắc - Nam, hưởng ứng phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh do Trung ương Ðảng phát động năm 1960. Vượt qua khoảng cách địa lý, tình nghĩa keo sơn này được hun đúc và phát triển bền vững từ những năm tháng kháng chiến đến ngày nay.

Treo cờ dụ địch

Hướng tới ngày kỷ niệm Chiến thắng Ðầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (23/11/1963), tôi xin viết lại câu chuyện treo cờ dụ địch, ghi theo lời kể của đồng chí Châu Thái Biết, nguyên Tiểu đội trưởng Trinh sát đặc công, Tiểu đoàn 306 anh hùng (đã mất cách đây gần 3 năm), như sự tri ân những người trực tiếp làm nên chiến công bất tử trên mảnh đất Cà Mau giàu truyền thống cách mạng.