Thứ ba, 3-2-26 15:06:26
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Tiếng mõ quê tôi

Báo Cà Mau (CMO) Sau 5 năm chiến đấu cùng Tiểu đoàn 410 (tiểu đoàn chủ lực Nam Bộ) chống Pháp, năm 1954, Hiệp định Geneve ký kết về Việt Nam, tôi được giao nhiệm vụ ở lại hợp pháp với giặc hoạt động địa bàn huyện Thới Bình. Trong Chi đoàn Thanh niên ấp Bà Đặng (nay là Khóm 7, thị trấn Thới Bình) có 8 đoàn viên, hầu hết trong độ tuổi học sinh. Anh Nguyễn Hữu Chung (Tư Mười) lớn hơn, vừa là Bí thư Chi đoàn, vừa là thầy dạy chúng tôi luyện ôn thi tiểu học.

Quân giặc vừa đến chiếm đóng Thới Bình, chi đoàn có trách nhiệm liên hệ cảm tình với các gia đình có con em đi lính cho giặc, tranh thủ bọn hội tề, gián điệp, xây dựng cơ sở cách mạng trong hàng ngũ giặc. Quân lính của Ngô Đình Diệm chiếm đóng Thới Bình, chúng lập ra khu quân sự vùng trọng điểm để đưa bom đạn đánh phá vào khu căn cứ cách mạng Thới Bình - U Minh.

Phản bội Hiệp định Geneve năm 1954, bọn Lâm Quang Phòng cùng số tên từng đi kháng chiến nhưng không tập kết ra Bắc, tích cực lập công với giặc, manh tâm phản bội Nhân dân. Chúng thực hiện các mưu đồ đen tối nhằm trả thù những gia đình kháng chiến, gia đình có người thân tham gia cách mạng. Chúng gây ra biết bao vụ thảm sát đẫm máu, gieo tội ác với bà con Nhân dân trong huyện  U Minh và Thới Bình.

Năm 1956, các lực lượng ly khai giáo phái cùng quân lính Ngô Đình Diệm kéo đến khu vực Thới Bình tranh giành lãnh địa, đoàn viên thanh niên nóng lòng khi hơn 2 năm chờ đợi không có hiệp thương tổng tuyển cử như hiệp định đình chiến đã ký, Nam - Bắc không thống nhất. Các đoàn viên manh động bí mật nhận vũ khí của lực lượng giáo phái, vùng đất Thới Bình lúc bấy giờ trở nên sôi động như vùng chiến sự. Các cuộc chạm súng lẻ tẻ giữa quân giáo phái với quân lính Ngô Đình Diệm, rồi những trận đánh lớn đến mức ác liệt. Các anh bộ đội Cụ Hồ được phân công ở lại miền Nam, cùng đoàn viên thanh niên địa phương tham gia chiến đấu. Các trận đánh nhau ở Kênh 6 La Cua (nay thuộc xã Biển Bạch, Trí Lực), làm hàng trăm quân của Diệm phải phơi thây khắp kênh mương, bờ rẫy.

Đêm 30 Tết năm 1957, một đêm khắc sâu trong ký ức của bà con Nhân dân ấp Bà Đặng - Thới Bình. Tên Đại uý Trần Văn Hai, quận trưởng của giặc, chủ mưu cho bọn công an - mật vụ (lính áo đen) vào rạch Bà Đặng bắt anh Nguyễn Hữu Chung, chúng đưa anh ra khỏi nhà khoảng 200 m, dùng lưỡi lê đâm vào bụng và bán súng đánh vào đầu. Thấy anh quỵ hẳn, đinh ninh rằng anh đã chết, chúng bỏ đi, khi tỉnh lại Chung gắng sức ôm lấy vết thương trên bụng, bò về nhà. Được tin báo, bà con hai đầu xóm đốt đuốc gọi nhau: “Kẻ cướp! Có kẻ cướp giết người”. Tôi nhanh chân đến kịp, xé chiếc áo thun đang mặc băng vết thương cho anh. Ông Nguyễn Lương Quang (Năm Đảnh), cha của anh Chung và là cha vợ của ông Ngô Tâm Đạo, Hộ pháp Cao đài Minh Chơn Đạo, đem tấm ván ngựa ra sân nhà, đánh liên hồi gọi làng xóm tiếp cứu. Tiếng mõ của bà con ấp Bà Đặng - Thới Bình lần này cùng vang rền trong đêm tối, trở thành tiếng mõ đầu tiên của Nhân dân miền Nam đoàn kết đuổi giặc, tiếng mõ đã đi vào lịch sử, vạch trần tội ác của bọn nguỵ quyền Sài Gòn.

Quê tôi với những chiếc mõ tre của Nhân dân đoàn kết đuổi giặc.

Liền trong đêm, tôi và anh Võ Văn Sò (sau này là bộ đội, hy sinh) chuyển anh Chung ra Bệnh viện Thới Bình. Khi dìu anh Chung vào phòng cấp cứu thì gặp ngay 2 tên mật vụ từ bên quận đến, chúng bảo bác sĩ chích thuốc cho nạn nhân chết luôn, chúng nói đây là lệnh của tên quận trưởng. Khi bác sĩ hỏi ai là người nhà nạn nhân, nhìn đôi mắt của bác sĩ tôi nhận được thầy thuốc không hài lòng với 2 tên mật vụ. Tôi lập tức xin bác sĩ cho chuyển anh về nhà vì sức đã đuối lắm rồi. Không chờ bác sĩ trả lời, tôi cùng anh Sò ôm anh Chung đưa xuống xuồng cho kịp chuyến tàu khách đi Cà Mau. 

Đêm ấy chúng cùng lúc bắt 7 anh em ở thị trấn Thới Bình, trong đó có ông thợ bạc Tưởng, chúng sát hại rồi thả thây trôi trên sông. Liền đó, đêm đêm chúng vào nhà dân cào vách, dùng dao cán dài hoặc chỉa đâm nơi có người nằm ngủ. Bầu không khí hoang mang bao trùm làng quê, nhà dân đêm ngày luôn đóng cửa, đường thôn vắng lạnh…

Sau sự việc anh Nguyễn Hữu Chung bị giặc ám toán và được bà con cứu thoát, những đêm kế tiếp chúng đưa lính đến các xã, ấp vùng căn cứ cách mạng gây ra nhiều cuộc vây bắt “thây người, vũng máu”. Tiếng mõ của Nhân dân lại gọi nhau đoàn kết đuổi giặc. Cũng từ đây, quân giặc gây ra biết bao tang tóc, khủng bố, bắt cóc, thủ tiêu, giết lén nhằm trả thù hèn mạt vào những người kháng chiến cũ, với gia đình có người thân tham gia cách mạng. Từ năm 1957-1958, hơn 200 gia đình cán bộ và Nhân dân trên quê hương Thới Bình - U Minh bị chúng sát hại.

Để bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân, khoảng tháng 10/1958, lực lượng giáo phái, tiền thân của các đơn vị vũ trang tỉnh Cà Mau kết hợp với Nhân dân địa phương giải tán bọn tề nguỵ, tài sản của giặc ở các cơ sở và trừng trị thích đáng bọn tề gian ác đã gây nợ máu với Nhân dân. Tên Đại uý quận trưởng quận Thới Bình Trần Văn Hai đền tội, hắn bị giết chết ở vàm rạch Cái Sắn (nay thuộc xã Biển Bạch Đông).
Sau khi giặc khủng bố gia đình ông Nguyễn Lương Quang, ông cùng tôi phải bỏ nhà đi, bà con hàng xóm nhiều người cũng phải đi tránh bọn giặc ở Chi khu Thới Bình. Năm 1960, tôi vào phục vụ cơ quan Tỉnh đội Cà Mau, đóng ở Rau Dừa, đầm Thị Tường, huyện Cái Nước, ông Nguyễn Lương Quang đi theo tôi ở nhà dân. Những tháng năm xa quê hương, ông được bà con Nhân dân thương mến - đùm bọc. Ông giúp dân tích cực, thường ngày ông làm các việc như nhổ mạ, câu cá, hái rau, kiếm củi. Ông còn biết nghề đan đát, đan thúng, rổ tặng các gia đình nơi chúng tôi ăn ở./.

Khi vết thương lành hẳn, anh Nguyễn Hữu Chung tạo hợp pháp với giặc để tiếp tục hoạt động kháng chiến và được tổ chức nội thành đưa vào làm việc ở Nhà máy Đèn Cà Mau đến kết thúc chiến tranh. Năm 1975, quê hương giải phóng, anh Chung trở về Bà Đặng tham gia công tác trong ngành tư pháp, là Phó chánh án Toà án Nhân dân huyện Thới Bình đến lúc nghỉ hưu. Chị Nghê Kim Hoa (vợ anh Chung) mấy mươi năm theo chồng, nuôi đàn con khôn lớn. Quân giặc vừa buông súng đầu hàng, chị Hoa trở về nhận nhiều công việc ở địa phương, nhiều năm liền là Bí thư Chi bộ Ấp 7 (nay là Khóm 7, thị trấn Thới Bình), ấp văn hoá đầu tiên của tỉnh Cà Mau. 

Nguyễn Hiệp

Thăm căn cứ xưa

Một sáng cuối năm 2025, tôi và anh Phạm Thạnh Trị - đồng đội từng công tác tại Văn phòng Tỉnh uỷ từ cuối năm 1960-1975, được anh Lê Minh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cà Mau, mời về thăm lại Di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước (ấp Xẻo Ðước, xã Phú Mỹ), nhắc nhớ ký ức những năm tháng sống và làm việc ở nơi này.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài cuối: Nối tiếp truyền thống, dấn thân kiến tạo

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Cà Mau không chỉ là mảnh đất của những chiến công hiển hách mà còn là nơi lưu dấu những giá trị sâu sắc về dân chủ và pháp quyền. Ở đó, dòng chảy lập hiến luôn được tiếp nối giữa các thế hệ.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 3: Phát huy dân chủ - Kiến tạo phát triển

80 năm đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội năm 1946, tinh thần “lấy dân làm gốc” vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy chính trị của đất nước. Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, tinh thần ấy đang được cụ thể hoá bằng chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân, nơi quyền lực của Nhân dân được thực thi mạnh mẽ qua từng lá phiếu và tiếng nói phản biện tại diễn đàn HÐND các cấp.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 2: Từ lá phiếu đầu tiên đến nghị trường

Trải qua 15 nhiệm kỳ gắn liền với 80 năm lịch sử Quốc hội Việt Nam, các thế hệ đại biểu Quốc hội (ÐBQH) tỉnh Cà Mau (bao gồm cả giai đoạn thuộc tỉnh Bạc Liêu và Minh Hải) đã luôn khẳng định vai trò là cầu nối vững chắc giữa ý chí của Nhân dân vùng cực Nam với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Từ những ngày đầu sơ khai của nền dân chủ đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dấu ấn của người đại biểu nơi đây luôn đậm nét trong từng quyết sách hệ trọng của quốc gia.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ

LTS: Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta cùng ngược dòng lịch sử về vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Giữa tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, người dân Cà Mau biến ngày 6/1/1946 thành "mốc son chói lọi", khẳng định quyền làm chủ và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc quyết không làm nô lệ.

Tiểu đoàn 307 - Huyền thoại và sự tiếp nối

Tiểu đoàn 307 không chỉ là cái tên đi vào những ca khúc cách mạng bất hủ, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Nam Bộ. Trên vùng đất Cà Mau kiên trung, dấu ấn của Tiểu đoàn đã được khắc ghi đậm nét trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Khởi nghĩa Hòn Khoai - Biểu tượng anh hùng bất tử

Cách đây 85 năm, tại Hòn Khoai - đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc, diễn ra sự kiện lịch sử lừng lẫy: cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Anh hùng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 giành toàn thắng.

Nhớ mái trường thời chiến

Giữa năm 1967, tôi được địa phương chọn đưa đi học Trường Bổ túc văn hoá tu nghiệp sư phạm huyện Trần Văn Thời, đào tạo giáo viên cho cơ sở.

Nghĩa tình son sắt, vượt thời gian

Mối quan hệ kết nghĩa giữa Ninh Bình (miền Bắc hậu phương) và Bạc Liêu (miền Nam tiền tuyến, nay là tỉnh Cà Mau) là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết Bắc - Nam, hưởng ứng phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh do Trung ương Ðảng phát động năm 1960. Vượt qua khoảng cách địa lý, tình nghĩa keo sơn này được hun đúc và phát triển bền vững từ những năm tháng kháng chiến đến ngày nay.

Treo cờ dụ địch

Hướng tới ngày kỷ niệm Chiến thắng Ðầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (23/11/1963), tôi xin viết lại câu chuyện treo cờ dụ địch, ghi theo lời kể của đồng chí Châu Thái Biết, nguyên Tiểu đội trưởng Trinh sát đặc công, Tiểu đoàn 306 anh hùng (đã mất cách đây gần 3 năm), như sự tri ân những người trực tiếp làm nên chiến công bất tử trên mảnh đất Cà Mau giàu truyền thống cách mạng.