Thứ năm, 18-6-26 10:43:34
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Xưởng phim Tây Nam Bộ

Báo Cà Mau Tôi về công tác tại Xưởng phim Tây Nam Bộ vào năm 1970, khoảng 8 năm sau khi xưởng phim được thành lập. Thực ra, đơn vị này có 2 tên. Một là: “Xưởng phim Giải phóng Tây Nam Bộ” ghi ở đầu phim để định danh nơi sản xuất, bởi vì phim thời sự lúc đó còn có Hãng phim Thời sự tài liệu Trung ương (Hà Nội) và Xưởng phim Giải phóng (Cục Ðiện ảnh miền Nam). Hai là: Tiểu ban Ðiện ảnh (19A, C9) thuộc Ban Tuyên huấn Khu Tây Nam Bộ, cùng với nhiều Tiểu ban khác như: Tuyên truyền, Thông tấn - Báo chí, Văn nghệ... Cũng cần nói rõ thêm là bộ phận nhiếp ảnh khi thì thuộc Tiểu ban Ðiện ảnh (C9), lúc thì thuộc Tiểu ban Thông tấn - Báo chí (C8). Chẳng hạn khoảng 5 năm tôi công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh thì nhiếp ảnh thuộc Tiểu ban Thông tấn - Báo chí (C8).

Khi mới thành lập Tiểu ban Ðiện ảnh cũng như thời gian trú ngụ dài nhất của đơn vị này là ở rạch Xẻo Cùi, xã Tam Giang, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Cũng dễ giải thích điều này, vì Năm Căn là vùng rừng đước bạt ngàn mà căn cứ cách mạng trú ngụ suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ban Tuyên huấn Khu Tây Nam Bộ hình thành ở khu căn cứ ấy thì các tiểu ban cũng xuất hiện tại đây.

Theo các tư liệu còn lưu trữ thì Xưởng phim Tây Nam Bộ có khởi đầu là những Tổ triển lãm ảnh và ảo đăng (rọi to những tấm phim chụp lên tấm màn giấy hoặc vải). Dần dần, các đội chiếu phim hình thành để phục vụ ngày càng nhiều cho bộ đội và đồng bào. Phim chiếu lúc đó hầu hết là phim truyện và phim tài liệu do Hà Nội gửi vào hoặc phim tài liệu từ Cục Ðiện ảnh miền Nam (Tây Ninh) gửi xuống.

Khi nắm bắt được nhu cầu của Nhân dân và bộ đội là muốn xem thời sự của xứ mình, lãnh đạo Tiểu ban Ðiện ảnh quyết định sản xuất phim gồm: những cuốn thời sự tổng hợp nhiều mẫu, phóng sự, tài liệu. Thực ra đó cũng chỉ là phim “câm” (hình ảnh động, không lời, không tiếng động, không nhạc). Khi chiếu phim lên màn vải trắng, có người nhìn cảnh rồi đọc thuyết minh theo hình ảnh. Vậy mà được hoan hô, vỗ tay quá chừng! Có lẽ vì đó là “chuyện của xứ mình”.

Nói là phim “câm”, nhưng để làm ra nó không hề dễ dàng chút nào.

Trước tình hình khó khăn, ác liệt, bộ phận Nhiếp ảnh Khu 9 phải làm những bộ ảnh gọn nhẹ mang đến tận công sự, hầm tránh pháo ngoài đồng để phục vụ dân, góp phần đem lại niềm tin cho mọi người. Ảnh tư liệu

Trước tình hình khó khăn, ác liệt, bộ phận Nhiếp ảnh Khu 9 phải làm những bộ ảnh gọn nhẹ mang đến tận công sự, hầm tránh pháo ngoài đồng để phục vụ dân, góp phần đem lại niềm tin cho mọi người. Ảnh tư liệu

Những năm tôi công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh Tây Nam Bộ, đơn vị này có khoảng 40 người, trong đó: chiếu phim 12 người (3 đội), hậu kỳ 3 người, lãnh đạo 2 người, hành chánh và tài vụ 1 người, còn lại là quay phim (quay chính và phụ quay). Như vậy, lực lượng quay phim là đông nhất, mỗi đội quay gồm 2 người. Phân công là vậy, nhưng có những công việc, người này cũng làm choàng cho người kia được cả.

Về thiết bị và nguyên liệu để sản xuất phim, lúc ấy tôi chỉ biết loáng thoáng là: Một nguồn từ Hà Nội và Cục Ðiện ảnh miền Nam chi viện, một nguồn khác do cơ quan nhờ người ra thành thị mua. Mà biết loáng thoáng là phải rồi, chiến tranh thì việc ai làm nấy biết. Nghe đâu, có người đàn ông ra thành thị mua hoá chất làm phim cho cơ quan bị địch bắt. Sau này, tôi còn nghe em Lê Lệ Hồng, nguyên Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ Cà Mau, kể lại chuyện em bị địch bắt (cùng với chiếc ghe chở vũ khí, máy chiếu phim, máy quay phim...) khi em là giao liên công khai.

Các đội quay phim (quay chính và phụ quay) thường được lãnh đạo phân công đi các tỉnh thuộc Khu Tây Nam Bộ. Ở một số chiến trường trọng điểm, có lúc từ 1-3 đội. Cả Xưởng phim, duy nhất có đội quay phim nữ gồm: đội trưởng Nguyễn Thuý Liễu (quay chính) và Ngô Hoàng Giang, là tôi (phụ quay). Ðội quay phim nữ không được phân công đi chiến trường có lẽ vì được “cưng”. Thực ra, có 1 nữ quay phim chính đã hy sinh ở lộ Vòng Cung Cần Thơ năm Mậu Thân (1968). Còn lại 1 nữ quay phim chính là chị Liễu đến khi tôi về công tác tại đây. Ðội nữ lúc này chỉ quay phim các cuộc mít tinh, xây làng chiến đấu, thanh niên tòng quân, đóng đảm phụ... Tuy đội nữ quay phim chỉ thực hiện những mẩu thời sự hậu phương nhưng cũng xém chết bao lần. Trong đó có chuyến quay phim xây làng chiến đấu ở xã Ba Viễn (nay là xã Tân Tiến, huyện Ðầm Dơi, tỉnh Cà Mau). Sau khi chị Liễu cùng cán bộ địa phương xác định điểm quay và vận động bà con xong thì địch đổ quân rất nhanh tại hiện trường. Hồi ấy gọi là “trận nhảy dò” - bầy trực thăng bắn rát rồi ập quân xuống luôn. May là lính đóng quân cách chỗ 2 chị em chừng 1 km, nên chờ đêm xuống, 2 chị em chèo xuồng về cơ quan, lúc đó ở rạch Sọ Ðầu trong cánh rừng đước ven kinh Ông Ðơn.

Các đội quay phim nam thì sự nguy hiểm còn gấp nhiều lần hơn. Có lần họp với các đội quay phim, chú Bảy Triển (Lê Châu), thủ trưởng cơ quan, nói: “Người quay phim còn phải dũng cảm hơn cả bộ đội. Bởi vì, bộ đội đứng dưới công sự, núp gốc cây hay bờ đất cũng bắn trúng giặc. Còn quay phim mà như vậy thì làm sao có những cảnh hay, chân thật, rõ ràng...”.

      Có lẽ vì nhiệm vụ thiêng liêng ấy mà mỗi người quay phim đã trở thành một chiến sĩ, kể cả là... liệt sĩ. Theo danh sách lưu giữ, năm Mậu Thân (1968) có khoảng chục chiến sĩ quay phim ngã xuống. Còn những năm tôi công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh, có một lễ truy điệu tại cơ quan (rạch Sọ Ðầu - kinh Ông Ðơn) cứ ám ảnh khôn nguôi. Ðó là lễ truy điệu 2 quay phim chính cùng hy sinh tại trận đánh Chi khu Ngã Năm (Sóc Trăng). Mãi đến bây giờ, 2 liệt sĩ Mai Thanh Liêm và Phạm Minh Tước vẫn không tìm được xác...

Thuở ấy, cứ mỗi con nước lớn vào ban đêm mà nghe tiếng khua xuồng chèo lụp cụp thì cả cơ quan thức dậy xem đội quay nào về...

Giờ, nói sang chuyện hậu kỳ phim. Trước kia thì không rõ, nhưng khi tôi về công tác ở Tiểu ban Ðiện ảnh (năm 1970) thì tất cả học theo cách truyền nghề (người đi trước dạy người đi sau). Gọi là lớp đào tạo quay phim (chỉ có 7 người), do anh Trần Thanh Hùng, thủ phó cơ quan, hướng dẫn. Tôi vừa học quay phim vừa học in, tráng phim cùng 2 bạn nữ, do chị Liễu hướng dẫn. Sợ nhất và khổ tâm nhất là làm hư phim gốc (phim quay xong chuẩn bị đưa vào thuốc hiện hình). Công đoạn dễ bị hư, mà hư thì vô phương cứu chữa. Ðó là khi quấn phim vào khung trong bóng tối, hoàn toàn tối đen, chỉ bằng cảm giác của ngón tay. Ðoạn phim chồng lên nhau thì thuốc không vào được, hình không lên - bỏ. Nếu đó là những cảnh thuộc về chiến sự thì... ôi trời! Khóc luôn! Những công đoạn khác của hậu kỳ phim không đến nỗi nào, làm chậm thì cố gắng làm nhanh, làm hư thì bị kiểm điểm về “tội” lãng phí. Chỉ có công đoạn khắc nghiệt “quấn phim gốc” mà tất cả đều xem là “xương máu” của các đội quay phim chiến trường.

Còn một chuyện nữa liên quan sự nghiêm ngặt khi hậu kỳ thời ấy nghĩ cũng nên kể lại, đó là nước để tráng phim (phim gốc và phim chiếu). Nguồn nước duy nhất để hậu kỳ phim lúc ấy là nước mưa, phải dự trữ nước mưa đến mức tối đa theo khả năng của cơ quan. Thùng chứa nước mưa được hàn từ tấm tôn rất lớn và sơn đen phía ngoài thùng, mỗi thùng chứa khoảng 2 mét khối. Thùng nước mưa được đặt trên sàn lót bằng cây đước, êm và chắc chắn. Tàu lá dừa nước được cột đuôi vào những cây đước xung quanh và thả cọng tàu lá vào thùng. Nắp thùng nước là tấm lá chầm để lá đước không rơi vào được. Những thùng nước để tráng phim là “bất khả xâm phạm”, chỉ thỉnh thoảng giở nắp thùng xem có vật lạ gì không. Nước sinh hoạt cho cơ quan (uống, nấu ăn, tắm, giặt...) là những cái thùng kém chất lượng hơn, hình như làm từ nguyên liệu thừa của các thùng nước để tráng phim. Mùa mưa thì thoải mái, mùa khô phải ra kinh Ông Ðơn, tìm chỗ “đổi nước” trên đồng về cho sinh hoạt của cơ quan. Tất nhiên, nước trên đồng kinh Ông Ðơn uống thì lơ lớ, còn gội tóc phải pha xà bông bột. Kể chuyện nước tráng phim để nói rằng: thời ấy, phim được “cưng” hơn người.

Có một sự ngây ngô mà tôi không thể nào quên, cũng xin được kể lại... Hôm đó, tôi thấy một anh quay phim chính (Ðội trưởng) cặm cụi đóng cái khung hình chữ nhật bằng cây đước con, rồi móc đất bùn bỏ vô đó. Xong, còn dùng 5 ngón tay vẽ loằng ngoằng mặt bùn. Tôi quan sát mà không hỏi vì sợ bị nghĩ là tò mò, hoặc sẽ bị chọc “quê”. Vậy rồi anh ta bỏ đi đâu cả buổi, tôi thì cứ thỉnh thoảng đi ngang nhìn cái mớ bùn đó. Vẫn không hiểu ra được gì, tôi nghĩ hay anh này có vấn đề về... thần kinh. Ðến khoảng trưa, nắng trong rừng đước toả xuống thành những đốm sáng, lướt qua lướt lại trên mặt bùn thì thấy anh ta xách máy quay phim ra quay. Tôi nghĩ, mấy anh đi quay phim chiến trường riết rồi bị “mát” hay sao? Quay cảnh, quay người thì không quay, mà đi quay bùn? Hoá ra là như vầy... Lấy đoạn phim gốc (quay bùn) in lần thứ nhất lên phim chiếu rồi lấy phim gốc quay bảng vẽ tên phim (nền đen, chữ trắng) in chồng lên đoạn phim gốc quay bùn. Xong, đem đoạn phim chiếu vừa in 2 lần cho vào thuốc, tên phim dần dần hiện lên trên nền “hoa văn màu xám lung linh nhè nhẹ...”, chứ tên phim không hiện ra chữ trắng trên nền đen thui... A..., ra là vậy! Cũng phải mất đôi ba ngày để hoàn thành công đoạn tạo phông nền cho tên phim. Vậy đó!

Hồi đó...! Giới trẻ bây giờ hay nói với nhau là ai mà hay nói “hồi đó...” là già rồi đó! Có lý! Tôi cũng thuộc thế hệ “hồi đó...” rồi! Thôi thì khi có dịp, tôi cũng xin được góp một đoạn rất ngắn “hồi đó...” vào chặng đường dài của báo chí cách mạng ở Cà Mau.

TP Hồ Chí Minh, tháng 3/2025

Nhà báo Ngô Hoàng Giang

Nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật TP Hồ Chí Minh

Biển đông tình nghĩa vợ chồng

Con nước sông Cửa Lớn buổi hoàng hôn lặng lẽ chảy ngang vàm Kinh Ông Quyền. Nước mang vị mặn của biển Đông, len qua những rừng đước xanh rì rồi ôm lấy căn nhà nhỏ của vợ chồng chị Phan Thị Chuyển. Cũng từ con nước lớn ròng này, câu chuyện tình nghĩa vợ chồng chân chất miền biển đã lớn lên cùng nghề làm mắm cá sơn, thứ đặc sản từng bị xem là “cá bỏ đi” của xứ rừng phương Nam.

Bừng sáng biển đảo Tây Nam

Tôi gặp lại anh Mai Văn Ðỉnh, phóng viên Báo Công Lý, người bạn trong chuyến đi Trường Sa mùa Tết năm 2024 ngót một tháng trời. Chuyến đi ấy đã cho tôi thật nhiều thứ, mà khi về đất liền, tôi trân trọng gọi đó là chuyến hải trình thiêng liêng. Lần hội ngộ này, chúng tôi lại cùng nhau chung một hải trình, trong mùa biển đẹp, sóng êm để đến với biển đảo Tây Nam, nơi có quê hương Cà Mau yêu dấu. Thấy tôi vẫn vắt vẻo máy ảnh bên mình, anh tươi cười, “vậy là chúng ta lại cùng nhau đi biển đảo, cùng tác nghiệp, cùng có những bài viết cho chuyến đi”. Tôi thoáng chốc ngẩn ngơ! Khi biết tôi đã chuyển công tác từ đầu năm, anh quàng vai, nói khẽ: “Ðược đi cùng nhau là vui".

Người giữ đất rừng U Minh

 Con đường về xã Khánh Lâm mùa này hun hút nắng. Xe chạy dọc theo những con kênh nước phèn nhuộm đỏ chân rừng, len qua những vạt tràm đứng im thin thít như đang lắng nghe tiếng đất thở dưới chân người. Miệt rừng tràm nơi địa đầu cực Nam Tổ quốc vẫn mộc mạc như thuở nào: lặng lẽ, chân tình và sâu đậm như con nước luồn qua rừng tràm, âm thầm bồi đắp sức sống cho đất U Minh.

Đêm nghe đất nứt

Ở miền đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, nơi những con sông mở đường ra biển lớn, người dân Cà Mau từ bao đời nay vẫn sống cùng nước như sống cùng hơi thở. Sông là đường đi. Sông là kế sinh nhai. Sông là nơi dựng nhà, neo ghe, sinh con, lớn lên rồi già đi.

Chuyến đò chở thanh xuân và những giấc mơ không lạc dòng

Cách đây hơn 10 năm, trong một lần về ấp Thuận Tạo (xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau cũ) đưa tin lễ khánh thành điểm trường mới, tôi vô tình gặp và phỏng vấn cậu bé Nguyễn Quốc Út. Khi ấy, Út mới học lớp 2. Hỏi về ước mơ dưới mái trường khang trang, cậu bé ấp úng: “Con chỉ cần học lên tới lớp Tư thôi” !?

Biểu tượng của khát vọng vươn lên

Ở bất kỳ vùng đất nào, những công trình biểu tượng không đơn thuần là một hạng mục kiến trúc hay mỹ thuật đô thị. Ðó còn là kết tinh bản sắc văn hoá, lịch sử hình thành và khát vọng phát triển của một địa phương. Với Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, việc đầu tư xây dựng biểu tượng “Con tôm” và “Ba hạt lúa” có ý nghĩa sâu sắc cả về kinh tế, văn hoá lẫn tinh thần.

Trường Sa trong trái tim những người con đất mũi

Tham gia chuyến hải trình của Đoàn công tác số 12 năm 2026 đến với quần đảo Trường Sa và hệ thống Nhà giàn DK1, đối với 10 thành viên đến từ Cà Mau - vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, đây là hành trình của cảm xúc, niềm tự hào và trách nhiệm đối với chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài cuối: Ðồng bộ, quyết liệt, đúng quy định

Theo kế hoạch, năm 2026, cấp tỉnh triển khai trên 60 công trình, dự án; trong đó hơn 30 công trình, dự án trọng điểm chuyển tiếp từ năm 2025 và khoảng 28 dự án mới chuẩn bị triển khai. Ðây là nhiệm vụ rất lớn và khó khăn, đòi hỏi công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) phải có giải pháp đồng bộ, quyết liệt, với kế hoạch chi tiết, cụ thể.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển - Bài 2: Vẫn còn nhiều điểm nghẽn

Dù đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) còn tồn tại không ít khó khăn, hạn chế, do liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều quy định, đặc biệt là liên quan đến quản lý, sử dụng đất cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp có đất bị thu hồi. Vì vậy, công tác này vẫn được xem là “điểm nghẽn”, làm chậm tiến độ một số công trình, dự án.

Tạo mặt bằng sạch, mở đường phát triển

Năm 2026 được xác định là năm có ý nghĩa quan trọng đối với Cà Mau - năm bản lề tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030, nhất là tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh đó, tỉnh đang nỗ lực triển khai xây dựng đồng bộ nhiều công trình, dự án, đặc biệt là trên lĩnh vực hạ tầng giao thông. Theo đó, công tác giải phóng mặt bằng (GPMB) được xem là nhiệm vụ trọng tâm, yếu tố quyết định thu hút vốn đầu tư, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công và mở ra không gian phát triển mới.