Thứ bảy, 7-2-26 07:18:44
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Dấu hiệu mùa xuân

Báo Cà Mau Rạng sáng 1/5/1930, chưa đầy 100 ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), lá cờ đỏ búa liềm ngạo nghễ tung bay trên ngọn cây dương trước sân Đình Tân Hưng, bên bờ sông Rạch Rập (làng Tân Hưng), cách trung tâm đầu não của thực dân Pháp ở chợ Cà Mau hơn 2 km, báo hiệu mùa xuân độc lập, tự do của dân tộc bắt đầu.

Lá cờ Ðảng dài 2 m, rộng 1 m, dưới góc có khẩu hiệu “Diệt trừ Pháp tặc” và ghi tên “Ngọc - Ðức - Thế” (tên lót của 3 thanh niên treo cờ: Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Ðức Cao và Lương Thế Trân). Sáng ra, người dân quanh Ðình Tân Hưng và những người đi chợ đều trông thấy lá cờ ấy. Tại chợ Cà Mau, bà con sôi nổi bàn tán quốc sự. Bọn hương chức, lính làng bối rối, hốt hoảng, giở mọi trò để trấn an và sẵn sàng đàn áp.

Trong 3 người treo cờ ấy, cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Lương Thế Trân như một huyền thoại. Lương Thế Trân sinh năm 1911, là con cả của ông Lương Xuân Quang và bà Nguyễn Thị Diệp ở rạch Cái Nhum, làng Tân Hưng. Cha ông là nhà giáo - người dân địa phương thường gọi là giáo Năm, có chí hướng cách mạng. Lớn lên, Lương Thế Trân lên Sài Gòn học tập, may mắn tiếp xúc với các nhà cách mạng như: Ung Văn Khiêm, Nguyễn Công Trung... đều là những người gắn bó với tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, do Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Trong phong trào học sinh, sinh viên lúc bấy giờ, ông bị mật thám, cảnh sát theo dõi, bắt rồi thả nhiều lần, ra vào khám quen mặt, đến mức thành danh với bọn chúng: “thằng Lương bất khuất”.

Sau khi treo cờ Ðảng ở Đình Tân Hưng không lâu, ông bị địch bắt và trải qua những ngày đêm bị đánh đập, hù doạ. Chàng thanh niên 19 tuổi, trước toà, nếu tự nhận mình bị xúi giục thì sẽ được thả, nhưng Lương Thế Trân dõng dạc trả lời: “Tôi có học, hành động của tôi có suy nghĩ, không phải làm việc trẻ con”. Ban đầu, chúng kêu án biệt giam ở Yệm (nơi giam tội nhân còn thiếu niên), nhưng sau đó đã chuyển án đày ra Côn Ðảo.

Di tích Ðình Tân Hưng, nơi treo cờ Ðảng Cộng sản Ðông Dương đầu tiên ở Cà Mau, đồng thời là nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Mặt trận Tân Hưng và Mặt trận chống Pháp. Ảnh: HUỲNH LÂM

Tại Côn Ðảo, qua chế độ lao tù tàn bạo, Lương Thế Trân càng rèn luyện ý chí gang thép, trau dồi lý luận cách mạng, hăng hái đấu tranh đòi cải thiện đời sống, chống đánh đập, hành hạ tù nhân. Trưởng thành từ ngục tù, Lương Thế Trân cùng một số chiến sĩ cách mạng trở về đất liền tiếp tục con đường cách mạng, đi sâu vào đời sống nông dân nghèo bị địa chủ bóc lột, những người bị địch bắt làm xâu trên con lộ Cà Mau - Năm Căn, đòi cung cấp đủ gạo, giảm giờ công, ngày làm xâu. Bằng trình độ học vấn, ông sáng tác nhiều bài văn vần dễ đọc, dễ nhớ để tuyên truyền, giác ngộ thanh niên. Ðến nay, có người còn nhớ những câu thơ: “Ðoàn ta là thanh niên xích vệ/ Chúng ta là vệ đội nghèo xơ/ Sinh ra trong lao lý khốn cùng/ Chúng ta quyết chiến đấu hy sinh...”.

Từ những hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng hiệu quả đến đấu tranh vì quyền lợi của người dân nghèo, uy tín và năng lực của Lương Thế Trân ngày càng được khẳng định, tạo tiền đề để ông được tổ chức tin tưởng giao phó những trọng trách quan trọng. Tháng 5/1940, Lương Thế Trân được bầu làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Bạc Liêu. Tháng 6/1940, theo lệnh cấp trên, ông đi công tác ở vùng Gò Ân - Nước Xoáy - Vũng Liêm để tiếp sức chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam Kỳ. Vì nhiều lý do, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ngày 23/11/1940 không diễn ra đúng kế hoạch, Lương Thế Trân từ cù lao Năm Thôn (Tiền Giang) về căn cứ ở Trà Vinh thì bị địch bắt.

Lần nữa rơi vào tay kẻ thù, Lương Thế Trân bị chúng dùng mọi cực hình tra tấn đến bại liệt và áp giải về bót Bạc Liêu chờ ngày xét xử. Cùng lúc, địch cho lính đốt sạch nhà cửa, tài sản của gia đình ông. Không dừng lại ở đó, chúng bắt giải cả gia đình ông về bót, gồm cha ông và các em Lương Thế Châu, Lương Thế Phương, Lương Thế Hân. Không làm lung lay được ý chí của người cộng sản kiên trung, địch đày ông ra Côn Ðảo lần thứ hai với số tù 368.788.

Ba lần đứng trước toà án kẻ thù, Lương Thế Trân đều tỏ rõ khí phách người cộng sản, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng. Chuỗi năm tháng tù đày của ông cũng chính là quá trình tôi luyện bản lĩnh và lòng trung kiên theo cách mạng: ngày 2/8/1930, Toà án Bạc Liêu xử phạt 30 tháng tù về tội hành động nguy hại đến an ninh; ngày 23/6/1938, Toà thượng thẩm Sài Gòn tuyên phạt 3 tháng tù về tội gây cản trở đến tự do làm việc; ngày 13/8/1941, Toà án tỉnh Bạc Liêu xử phạt 5 năm tù và 10 năm cấm cư trú tại một số địa phương vì tội “phản nghịch”. Ông trở thành đối tượng bị địch đặc biệt dành cho các nhục hình tàn khốc, bỏ đói khát, ngủ lạnh... nhằm moi móc thông tin và uy hiếp tinh thần những tù nhân khác.

Ngọn lửa cách mạng trong tim Lương Thế Trân vẫn cháy sáng, nhưng trước chế độ nhà tù hà khắc, khốc liệt, sức khoẻ ông dần suy kiệt. Ông hy sinh tại Côn Ðảo ngày 21/8/1942 (có tài liệu ghi ngày 6/9/1941), phần mộ ở khu A - Nghĩa trang Hàng Dương. Cái chết hiên ngang, bất khuất của ông gây xúc động sâu sắc đối với các đồng chí bạn tù. Hai câu đối do ông Lê Tích Sang mang về trao tặng gia đình thể hiện niềm thương tiếc lẫn ngưỡng mộ: “Tuẫn tiết anh phong, bia sử lưu hương, thiên cổ tú / Trận vong liệt sĩ, lâu đài tạc tích, vạn niên xuân”.

Trong lần gặp vợ cuối cùng tại bót tỉnh lỵ Bạc Liêu trước khi bị đày ra Côn Ðảo, như linh cảm số phận của mình, Lương Thế Trân dặn dò: “Tôi chắc không về được nữa rồi. Mình ráng thay tôi nuôi nấng mấy đứa nhỏ nên người, nối chí ba nó; mình đừng làm điều gì tổn thương đến vinh dự gia đình”. Ghi nhớ lời ông dặn, bà nuôi dạy các con trưởng thành, tiếp nối con đường cách mạng, góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Bà thanh thản ra đi ngày 17/12/1987.

Tân Hưng - vùng đất địa linh nhân kiệt, sản sinh những người con ưu tú như: Trần Văn Thời, Lương Thế Trân và nhiều chiến sĩ cách mạng tiền bối khác.

Bia kỷ niệm Mặt trận Tân Hưng. Ảnh: HUỲNH LÂM

Từ "dấu hiệu mùa xuân" ngày 1/5/1930 để 15 năm sau có cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời; để 45 năm sau có chiến thắng mùa xuân lịch sử năm 1975, giang sơn nối liền một dải; để 95 năm sau có một nước Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới, ngày càng hùng cường, thịnh vượng./.

Nguyễn Thái Thuận

Thăm căn cứ xưa

Một sáng cuối năm 2025, tôi và anh Phạm Thạnh Trị - đồng đội từng công tác tại Văn phòng Tỉnh uỷ từ cuối năm 1960-1975, được anh Lê Minh Sơn, Giám đốc Bảo tàng tỉnh Cà Mau, mời về thăm lại Di tích Căn cứ Tỉnh uỷ Xẻo Ðước (ấp Xẻo Ðước, xã Phú Mỹ), nhắc nhớ ký ức những năm tháng sống và làm việc ở nơi này.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài cuối: Nối tiếp truyền thống, dấn thân kiến tạo

Trải qua các thời kỳ cách mạng, Cà Mau không chỉ là mảnh đất của những chiến công hiển hách mà còn là nơi lưu dấu những giá trị sâu sắc về dân chủ và pháp quyền. Ở đó, dòng chảy lập hiến luôn được tiếp nối giữa các thế hệ.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 3: Phát huy dân chủ - Kiến tạo phát triển

80 năm đã trôi qua kể từ cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội năm 1946, tinh thần “lấy dân làm gốc” vẫn luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong dòng chảy chính trị của đất nước. Tại vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc, tinh thần ấy đang được cụ thể hoá bằng chính quyền gần dân, hiểu dân, vì dân, nơi quyền lực của Nhân dân được thực thi mạnh mẽ qua từng lá phiếu và tiếng nói phản biện tại diễn đàn HÐND các cấp.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ - Bài 2: Từ lá phiếu đầu tiên đến nghị trường

Trải qua 15 nhiệm kỳ gắn liền với 80 năm lịch sử Quốc hội Việt Nam, các thế hệ đại biểu Quốc hội (ÐBQH) tỉnh Cà Mau (bao gồm cả giai đoạn thuộc tỉnh Bạc Liêu và Minh Hải) đã luôn khẳng định vai trò là cầu nối vững chắc giữa ý chí của Nhân dân vùng cực Nam với cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Từ những ngày đầu sơ khai của nền dân chủ đến công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, dấu ấn của người đại biểu nơi đây luôn đậm nét trong từng quyết sách hệ trọng của quốc gia.

Dấu ấn Cà Mau trong hành trình dân chủ

LTS: Hướng tới kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội (6/1/1946-6/1/2026), chúng ta cùng ngược dòng lịch sử về vùng đất địa đầu cực Nam Tổ quốc. Giữa tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp, người dân Cà Mau biến ngày 6/1/1946 thành "mốc son chói lọi", khẳng định quyền làm chủ và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc quyết không làm nô lệ.

Tiểu đoàn 307 - Huyền thoại và sự tiếp nối

Tiểu đoàn 307 không chỉ là cái tên đi vào những ca khúc cách mạng bất hủ, mà còn là biểu tượng của ý chí kiên cường, gắn liền với những chiến công vang dội trên chiến trường Nam Bộ. Trên vùng đất Cà Mau kiên trung, dấu ấn của Tiểu đoàn đã được khắc ghi đậm nét trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.

Khởi nghĩa Hòn Khoai - Biểu tượng anh hùng bất tử

Cách đây 85 năm, tại Hòn Khoai - đảo tiền tiêu phía Tây Nam Tổ quốc, diễn ra sự kiện lịch sử lừng lẫy: cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai, do Anh hùng Phan Ngọc Hiển lãnh đạo ngày 13/12/1940 giành toàn thắng.

Nhớ mái trường thời chiến

Giữa năm 1967, tôi được địa phương chọn đưa đi học Trường Bổ túc văn hoá tu nghiệp sư phạm huyện Trần Văn Thời, đào tạo giáo viên cho cơ sở.

Nghĩa tình son sắt, vượt thời gian

Mối quan hệ kết nghĩa giữa Ninh Bình (miền Bắc hậu phương) và Bạc Liêu (miền Nam tiền tuyến, nay là tỉnh Cà Mau) là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết Bắc - Nam, hưởng ứng phong trào kết nghĩa giữa các tỉnh do Trung ương Ðảng phát động năm 1960. Vượt qua khoảng cách địa lý, tình nghĩa keo sơn này được hun đúc và phát triển bền vững từ những năm tháng kháng chiến đến ngày nay.

Treo cờ dụ địch

Hướng tới ngày kỷ niệm Chiến thắng Ðầm Dơi - Cái Nước - Chà Là (23/11/1963), tôi xin viết lại câu chuyện treo cờ dụ địch, ghi theo lời kể của đồng chí Châu Thái Biết, nguyên Tiểu đội trưởng Trinh sát đặc công, Tiểu đoàn 306 anh hùng (đã mất cách đây gần 3 năm), như sự tri ân những người trực tiếp làm nên chiến công bất tử trên mảnh đất Cà Mau giàu truyền thống cách mạng.