Thứ sáu, 6-2-26 00:00:59
Cà Mau, 32°C/ 32°C - 33°C Icon thời tiết nắng
Theo dõi Báo điện tử Cà Mau trên

Nhớ đất mặn

Báo Cà Mau (CMO) Tôi có hai người anh làm vuông ở huyện Ngọc Hiển. Thỉnh thoảng lên Cà Mau chơi, mấy ảnh lại xách cho hai đứa con tôi ít quà quê. Khi thì mớ tôm, vài con cua, dăm con cá hay một bọc ruột hàu. Thật tình thì trước đây, tôi nhận quà trong tâm trạng rất thoải mái, chẳng “lăn tăn” gì. Nhưng khoảng hai năm nay, cầm túi đồ mấy anh cho mà lòng gợn chút tâm tư. Nuôi tôm dạo này thất bát quá, giá cả thì khi thăng khi giáng; nước nôi lên xuống thất thường, người có kinh nghiệm cũng khó mà đoán trúng.

Minh hoạ:  Kiều Loan

Nhờ sự “mai mối” của người bà con, khoảng năm 1990, gia đình tôi sang được miếng vuông ở huyện Ngọc Hiển. Lúc đó, tôi mới vô đầu cấp hai. Mỗi dịp nghỉ hè, tôi lại háo hức theo ba má, anh chị xuống vuông tôm chơi, dù phải ngồi xuồng chèo cả ngày trời mới tới. Sau này, khi sắm được máy đuôi tôm thì hành trình đi từ đất ngọt sang đất mặn cũng mất nửa ngày. Và mỗi lần cả nhà nép vào nhau trên chiếc xuồng mỏng manh, cưỡi sóng vượt sông Cửa Lớn thật sự là kỷ niệm không thể nào quên.

Trong con mắt của đứa trẻ quanh năm quanh quẩn ở vùng đất ngọt như tôi, thì xứ mặn Ngọc Hiển quả thật là “thiên đường” để khám phá. Tôi “gặp gỡ” đất mặn được chừng 30 năm, quãng thời gian không dài, nhưng cũng kịp chứng kiến nhiều câu chuyện thú vị, mà nếu chậm kể thì e sau này đám trẻ nghe được sẽ tưởng rằng tôi đang kể chuyện… bác Ba Phi.

Trước hết, cần khẳng định rằng thời ba má tôi còn làm vuông tôm, chẳng bao giờ tồn tại khái niệm “con giống”. Tất cả đều nhờ vào nguồn lợi tự nhiên.

Mỗi tháng hai lần, vào con nước Rằm và Ba mươi, nhà nhà lại háo hức xổ tôm. Mỗi con nước kéo dài từ 3-5 ngày, tuỳ biên độ thuỷ triều. Vào con nước xổ, sáng sớm nước lớn mênh mông, kéo dài đến trưa đứng bóng, chủ vuông mở cống lấy nước sông vô cho đầy vuông. Sập tối, khi nước từng dòng cuồn cuộn chảy về phía biển thì cả nhà bắt đầu rút cống, xổ tôm.

Thời gian từ lúc xổ tôm đến khi đổ lú hồi ấy được mấy anh trai tôi canh bằng … độ dài của điếu thuốc. Cứ kéo cống lên là một anh châm thuốc hút, người khác thì bơm đèn măng-xông nghe “óc óc”, đốt lên sáng rực một góc rừng. Ðiếu thuốc chớm tàn thì bốn năm người lật đật xách đèn pin đi kéo, đổ lú. Nếu để lâu chút thì một là kéo… không nổi, hai là đứt đuôi lú như chơi.

Trong làn nước chảy ầm ầm như thác, người ta dùng những cây “cù ngoéo” dài, móc ngang hông lú kéo lên. Những chàng lực điền, sức vóc “ngon lành” mà kéo đuôi lú nghe è ạch. Hai ba cái cần xé lớn đầy lặc lè tôm. Anh trai, chị dâu, chị gái hè nhau khiêng từ miệng cống vô nhà, đổ xuống ván nhà sàn nghe cái “xào”. Già trẻ, trai gái thi nhau dùng cây đố, chân tay gạt tôm cho chúng đừng tràn ra, rơi xuống đất. Một đêm, đổ ba lần chừng 6 cần xé thì đống tôm đã bự như đống lúa, lù lù giữa nhà.

Tôm xổ ra sạch như gạo cội, chỉ lẫn chút ít lá đước mới rụng, cuống còn đỏ tươi. Cả nhà quây tròn quanh đống tôm, dùng củi đước cào ra để phân loại, cho vào từng cái thau, cái thùng riêng. Tôm bạc, tôm đất thì hốt mệt nghỉ; bự con nhứt và có số lượng ít hơn một chút là những con tôm thẻ trắng ong, cỡ 50 con một ký mang cái đuôi đỏ chót rất đặc trưng. Tuyệt nhiên không có tôm sú.

Thú vui lớn nhứt của tôi hồi đó là đứng canh chừng, mỗi lần đổ cần xé, ngoài đám tôm búng tanh tách là những con cua, kéo nhau chạy tán loạn. Lúc đó, tôi dùng thanh củi đước bự tầm cái cán búa để đè bắt những con cua lớn hay cua gạch son. Nhiều con ngoài tầm với hoặc chạy quá nhanh thì cứ “khỏ” cho lật ngang rồi bắt. Cua nhỏ thì mặc kệ, chúng chạy đâu thì chạy. Bên dưới nhà sàn, mấy con mèo nuôi ú na ú núc nằm phục, chờ xơi những con cá vô tình rơi xuống.

Màn lựa tôm, phân loại thường kéo dài đến khuya, sau đó cả nhà xúm lại “xử” cả thúng tôm bầu luộc nóng hổi. Cái bếp than đước luộc tôm xong còn đỏ rực thường được tôi tận dụng để nướng mấy con cua bị “khỏ” rụng càng ngoe khi nãy. Ở xứ vuông này, người ta kiêng cữ chuyện nướng tôm, vì suy nghĩ “nướng” là … mất hết. Riêng con cua thì ngoại lệ. Một đêm xổ vuông, ngoài tôm là “sản phẩm” chính thì những thứ bắt được rất đáng kể là cua, cá đối, cá kèo, cá thòi lòi, bạch tuộc… lớp đem luộc, nướng ăn tại chỗ, lớp rọng lại hôm sau làm đồ ăn cơm. Hồi đó, một đêm xổ thế nào cũng bắt được vài con sam, cua đá, hay cá mao ếch. Những thứ này toàn bị vứt đi vì chẳng ai ăn, bây giờ lại là đặc sản tiền triệu trong các nhà hàng, quán nhậu hạng sang, muốn ăn cũng chưa chắc có.

Con nước xổ cũng cùng với thời điểm cua trong vuông ăn mồi. Chỉ cần chừng 20 cần câu, choàng ngang thắt lưng một bó dây lác ngâm nước cho dẻo, “thợ câu” một tay cầm cây vợt vành sắt gắn lưới đan thưa, miệng rộng cỡ cái rổ, tay kia cầm cây nọc để buộc đám cua bị bắt, là có nửa ngày hết sức bận rộn. Khi tháo cống lấy nước từ sông vào vuông là lúc đi chọn vị trí cắm câu, vô nhà ăn cơm lưng bụng là tới lúc đi thăm. Mê nhứt là khi đang bắt con cua ở cần câu này, nhìn sang những cần câu gần đó thấy cua đang ăn mồi, kéo dây “liệt liệt”. Có những ngày trúng đậm, cua xách không nổi, muốn dọn câu mà “tụi nó” cứ ăn hoài. Hết ngày câu, cua đựng lưng lửng cần xé bự, có khi hôm sau bán được năm sáu trăm ngàn - một món tiền đáng kể trong những năm trước 2000. Một mùa hè cắm câu, tôi dư sức mua sắm đồ dùng học tập, quần áo mới cho năm sau, còn thêm một mớ bỏ túi khá là rủng rỉnh.

Kể về sự trù phú của đất mặn là cả những câu chuyện dài. Chẳng hạn, đi làm ngoài vuông, chỉ cần xách theo tay lưới, neo ở ngã ba, ngã tư hoặc các trảng nước; khi về là có một tay lưới dính đầy cá, phải bè nguyên tay lưới dưới nước mang vô nhà, chứ không tài nào xách hay gỡ tại chỗ cho nổi.

Cá vùng này ngon đặc biệt, thịt dẻ, ngọt, thơm. Nhà tôi xưa mỗi bữa cơm là cả một mâm cá đầy. Cá phi thì chỉ ăn… cá phi cái, làm sạch, cặp gắp nướng than thơm nức mũi. Cá đối thì nướng hoặc chiên xù; cá nâu thì kho với trái giác mọc đầy theo bờ vuông.

Lâu lâu ngán cá, mấy anh trai tôi lại rủ nhau đi bắt vọp rừng, lội một buổi là “na” về cả thúng. Vọp ăn không xuể, nhà tôi hay vô cần xé chở về xứ ngọt, lớp ăn, lớp đem cho hàng xóm. Vỏ vọp ăn xong đổ từng đống sau hè. Mưa xuống, các chị gái lại chọn những mảnh vỏ lớn, đem vô nhà úp xuống, dùng búa hoặc cây “khỏ” cho bám đất để đi cho sạch chân. Mấy chỗ mưa hay tạt làm ướt đất, hay đường ra mấy lu nước mưa cũng được “lát” bằng vỏ vọp…. nhìn cũng “sang chảnh”.

Tôi thì tranh thủ những khi nước lớn lên thật cao, bơi xuồng dạo quanh mấy con rạch để bắt ốc len leo tránh nước bám từng chùm trên chang đước. Hôm khác, tôi và mấy đứa bạn cùng trang lứa ở gần đó rủ nhau đi săn cá thòi lòi. Hồi này, cá thòi lòi ở xứ rừng Ngọc Hiển nhiều vô số. Ði xuồng dọc sông hoặc trong vuông tôm, nghe tiếng động là từng bầy kéo nhau “chạy” đùng đùng trên mặt nước.

Bắt thòi lòi thường có hai cách, một là đặt lọp đan bằng lá dừa nước, hai là dùng mồi tép cắm câu. Người ta chọn những hang miệng còn ướt, sình láng lẫy để đặt lọp hoặc mồi câu. Ðiều thú vị là mồi dụ thòi lòi phải được đặt ngay ngắn trên một chiếc lá còn mới, ngay cửa hang thì chúng mới xơi, còn để mồi dưới đất thì đừng hòng bắt được chúng. Ði bắt cá thòi lòi, mỗi người thường đem theo một hai cọng dây gân dài chừng một thước để xỏ xâu. Có ngày, bắt được hai xâu đầy cá, vừa dài vừa nặng phải quấn lên cổ mang về. Kỳ lạ là thời đó, người ta bắt cá thòi lòi chỉ để cắt ra làm mồi đặt vó, hoặc làm mồi cắm câu cua; không biết chúng trở thành đặc sản dành cho con người tự bao giờ?

Trước những năm 2000, vùng mặn Cà Mau tuy trù phú, nhưng lại buồn đế… nao lòng. Xứ này nhà cửa thưa thớt, sông rạch thì quanh co, uốn lượn nên trong nhà nhìn ra bốn phía chỉ thấy rừng và rừng. Không điện, màn đêm buông xuống, chỉ còn những ánh đèn leo lét. Không đường bộ, muốn đến nhà nhau chỉ có cách đi bộ trên bờ vuông, hoặc đi xuồng. Mà đi xuồng thì cứ nhấp nhổm sợ gặp nước ròng, hoặc nước ngược chảy băng băng thì vô cùng vất vả. Vào con nước xổ vuông, những con sông, con rạch sâu hút hàng ngày chỉ còn một lạch nước bề ngang chừng vài tấc, không cách nào đi lại được.

Tôi khi ấy, chiều chiều lại ra ngồi vắt vẻo trên cầu thang ngắm những con cá bống sao sặc sỡ đùa giỡn trên mặt bùn. Nước ròng rút, lộ bãi là lúc hàng ngàn, hàng vạn con còng gió đủ kích cỡ, màu sắc rời hang đi kiếm ăn, giành mồi đánh nhau loạn xạ, trông thật vui mắt. Xứ này cũng có nhiều sóc cùng một loài rất giống con sóc, gọi là con “nhen”. Khi mấy cây cốc trước nhà trổ bông, kết trái là từng bầy sóc, “nhen” kéo đến ăn, chúng leo cây và nhào lộn đại tài. Quan sát và sống hòa mình với thiên nhiên là trải nghiệm tuyệt vời để những người trẻ như tôi tích luỹ thêm vốn sống.

Xứ mặn tuy buồn, nhưng bù lại là sự bình yên hiếm có. Phần lớn nhà ở vùng này là nhà sàn và không hề có cửa. Ngày cũng như đêm, nhà mở “tênh hênh”, gia chủ cứ đi tứ tán mà không cần trông coi gì. Ðêm về, những chiếc xuồng máy đuôi tôm trị giá vài cây vàng thoải mái đậu dưới sông nhưng chẳng khi nào nghe mất trộm. Người ta đối đãi với nhau bằng cái tình, cái nghĩa chân thành, hào sảng, mặn mòi như mùi của đất, của nước ở xứ này vậy.

Vùng mặn bây giờ khác xưa nhiều lắm. Xe hơi đã đến nhiều nơi. Ðiện sáng choang, vừa để sinh hoạt vừa để nuôi tôm công nghiệp. Xa xa, bên cạnh những căn nhà sàn truyền thống, lại bắt gặp những căn nhà tường bề thế. Trước phần lớn là nhà không cửa, giờ dường như tỷ lệ này đã đảo ngược rồi. Một lần ghé nhà người quen cũ, tôi được bạn đãi một bữa toàn tôm sú, thẻ chân trắng thay vì tôm thẻ đuôi đỏ và tôm đất, tôm bạc như xưa. Cá kèo cũng là cá nuôi, còn đâu cái thuở gần nước xổ vuông, chúng nổi đầu như trái mù u rụng ở gần miệng cống. Nhắc lại kỷ niệm đi câu cá thòi lòi, bạn tôi nói nghe đâu địa phương đang có kế hoạch bảo tồn loài cá đặc sản này để phục vụ ngành du lịch, một trong những thế mạnh kinh tế mới của huyện Ngọc Hiển, bên cạnh con tôm, con cua vốn là niềm tự hào của ngành thuỷ sản Cà Mau. Phải bảo tồn, nếu không e là chúng… tuyệt chủng vì bị khai thác quá mức.

Giờ đây, bà con xứ mặn không còn sản xuất độc canh mà đã “nuôi đa con, trồng đa cây” trên cùng một diện tích. Sự đa năng là cần thiết khi sản xuất phải thích ứng với nhu cầu của thị trường và sự biến đổi của khí hậu, thời tiết. Có điều, con giống, cây giống tất tần tật phải mua, không phải “của trời cho” như trước.

Quy luật của xã hội là phát triển, nhưng sự phát triển ấy phải phù hợp với các quy luật tự nhiên. Có “tử tế” với thiên nhiên thì phát triển mới bền vững được.

Ðất mặn vẫn là vùng đất trẻ. Và một cách nào đó, nó vẫn mang trong mình niềm khao khát “hồi sinh”!

 

Tuấn Ngọc

 

Giữ bản sắc cải lương phương Nam

Không chỉ nổi tiếng bởi rừng đước, rừng tràm và con người hào sảng, Cà Mau còn là một trong những cái nôi của đờn ca tài tử, vùng đất thấm đẫm hơi thở cải lương Nam Bộ. Trải qua bao biến thiên, việc dựng lại các vở tuồng cổ cải lương tại Cà Mau hôm nay không đơn thuần là tái hiện một loại hình sân khấu, mà chính là hành trình gìn giữ “hồn cốt” văn hoá đã ăn sâu vào tâm thức người dân phương Nam.

Yêu miền cố đô

Là công chức, công tác tại Ðảng uỷ phường Tây Hoa Lư, tác giả Trường Huy (Nguyễn Xuân Trường) đến với nhiếp ảnh từ tình yêu và tâm huyết với quê hương Ninh Bình. Bằng hình ảnh, anh mong muốn lưu giữ những giá trị văn hoá, lịch sử của vùng đất cố đô.

Rộn ràng đường đua phim Tết 2026

Thị trường phim Việt Nam đang vào giai đoạn sôi động nhất khi mùa phim tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 chuẩn bị khởi chiếu. Những dự án mới nhất vừa được công bố với sự tham gia của các đạo diễn và diễn viên tên tuổi khiến khán giả háo hức chờ đợi.

Hương quê neo giữ ký ức

Trong ẩm thực Nam Bộ, có những món ăn dân dã, nhưng chỉ cần nhắc đến thôi là đủ gợi lên cả một miền ký ức, như món khoai mì hấp nước cốt dừa - món ăn tuổi thơ của rất nhiều người miền Tây.

Viện Phim Việt Nam chiếu phim hướng tới Đại hội Đảng XIV

Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Viện Phim Việt Nam tổ chức Chương trình chiếu phim cách mạng từ ngày 14 - 17/1, tại Hà Nội.

Văn hoá - Thể thao - Du lịch: Động lực cho phát triển bền vững

Chiều 10/1, tại Hội nghị triển khai công tác văn hoá, thể thao và du lịch năm 2026; tổng kết Đề án “Bảo vệ và phát huy giá trị nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Cà Mau giai đoạn 2021-2025”, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Vũ Thăng nhấn mạnh: “Văn hoá, Thể thao và Du lịch là sức mạnh nội sinh, là động lực tinh thần quan trọng cho sự phát triển bền vững của tỉnh”.

Lưu giữ khoảnh khắc đẹp

Thích chụp những khoảnh khắc đời thường, phong cảnh... trong quá trình đi du lịch khám phá, Trần Thanh Sang bén duyên với nhiếp ảnh qua kết nối với những tay máy trẻ cùng đam mê trong tỉnh.

Kể chuyện quê hương bằng thời trang

Dưới ánh đèn rực rỡ của sàn diễn thiết kế trang phục văn hoá cấp quốc gia, những thiết kế mang hình ảnh tre Việt, bánh phồng tôm, điện gió Bạc Liêu của Phạm Hoàng Bảo hiện lên mộc mạc mà đầy dụng ý. Ít ai ngờ, tác giả của các bộ trang phục ấy là học sinh sinh năm 2009, Trường THPT Ðiền Hải, xã Long Ðiền.

Bảo tồn nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ

Trước sự phát triển mạnh mẽ của nhiều loại hình giải trí hiện đại, việc tổ chức lớp dạy đờn ca tài tử (ÐCTT) và liên hoan ÐCTT được xem là cách làm thiết thực, hiệu quả nhằm giữ gìn, lan toả và quảng bá giá trị của loại hình nghệ thuật truyền thống.

Tay súng, tay máy ghi ký ức một thời

Bà Nguyễn Thuý Liễu - nữ quay phim đầu tiên của Cà Mau, là một trong những gương mặt tiêu biểu của lực lượng nhiếp ảnh, quay phim miền Tây Nam Bộ trong kháng chiến. Những hình ảnh, thước phim của bà khắc hoạ chân thực và xúc động nỗ lực phi thường của quân, dân ta trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc.